Yên di nương thầm tính toán, cậu đã đắc tội với cả ba người phụ nữ quyền lực nhất hậu viện. Chi bằng rời khỏi đây để tìm hướng phát triển mới. Còn về sự nguy hiểm mà Hầu gia nói, Yên di nương chẳng mảy may để tâm. Thứ nguy hiểm đó chính là thứ cậu cầu còn không được, nhất là khi hệ thống chọn ra toàn những “cực phẩm” nam nhân, được chấm điểm càng cao càng tốt.
Tất nhiên, những gã như vậy thì gia thế hay dung mạo đều không thể tầm thường.
Yên di nương muốn đi, vì ở đây chẳng thu thập được bao nhiêu năng lượng mà toàn phải nhận những cái lườm nguýt của phu nhân. Phụ nữ cổ đại sau khi xuất giá gần như chẳng có cơ hội ra khỏi cửa, không tiếp xúc được với đàn ông khác thì biết đến bao giờ thanh năng lượng mới đầy để rời khỏi thế giới này?
Cậu thật sự chẳng ưa gì cái thế giới này, bị danh tiết trói buộc đủ đường, thu thập năng lượng chậm như rùa bò.
“Hầu gia, thiếp muốn rời khỏi đây, xin người thành toàn. Thiếp không muốn vì Yên Vân mà khiến gia đình xáo trộn, gà chó không yên.” Yên di nương khẽ nghiêng mình hành lễ, vẻ mặt vô cùng chân thành.
Thế nhưng, hai cha con nhà nọ lại hiểu lầm tai hại. Họ thấy Yên di nương đúng là một nữ tử hiểu chuyện, biết nghĩ cho người khác.
Thế tử xúc động nói: “Nàng không cần đi đâu cả, ở đây không ai có thể làm hại nàng!”
Yên di nương: “…” Tôi nói thật mà, tôi muốn đi thật mà!
Lời nói thật lòng của Yên di nương bị tất cả mọi người — ngoại trừ Ninh Thư — hiểu sai hoàn toàn.
Ninh Thư thừa biết tên này đang tính gì: ra ngoài thì mới dễ tìm “con mồi” chứ!
“Nàng là người của ta, muốn đi đâu? Nằm mơ đi! Ta bảo đảm ở đây không ai dám động đến nàng.” Thế tử thề thốt, rồi quay sang nhìn Hầu phu nhân: “Mẫu thân, người sẽ không làm hại Yên Vân nữa chứ?”
“Hộc… hộc…” Hầu phu nhân suýt thì ngất xỉu lần nữa, hơi thở đứt quãng, uất nghẹn không thốt nên lời. Hai người quan trọng nhất đời bà — phu quân và nhi tử — đều đang đứng ra bảo vệ một nữ nhân khác.
Ninh Thư liền hành lễ, tiếp lời: “Yên di nương là người của Hầu phủ, dĩ nhiên không cần phải đi đâu cả. Chỉ cần di nương giữ đúng phép tắc, chẳng lẽ Hầu phủ lại không nuôi nổi một người sao? Điểm này Thế tử cứ yên tâm.”
Hầu phu nhân đã không còn sức để nói, cũng chẳng buồn phản bác Ninh Thư, chỉ mệt mỏi phẩy tay.
Hầu gia gật đầu hài lòng: “Rất tốt.”
Thế tử cũng phụ họa: “Được lắm.”
Ninh Thư thầm nghĩ: Tuyệt vời!
Chỉ cần Yên di nương còn ở lại trong phủ, cô thiếu gì cách để trị. Nhưng vấn đề là làm sao để hai cha con kia không dính lấy ả để “vỗ tay” nữa đây?
Yên di nương thật sự thất vọng tràn trề, vừa mới rời khỏi viện của Hầu phu nhân đã lủi thủi quay về viện của mình.
Lão phu nhân biết chuyện liền đưa tay day trán. Bà thừa hiểu kết quả sẽ như vậy. Bà có thân phận bề trên nên hai cha con kia không dám hỗn, nhưng với hạng vợ con phụ thuộc vào mình, họ chẳng cần nể nang gì.
Bà vốn tưởng con dâu có thể trụ lâu hơn một chút, ai ngờ mới đó đã đầu hàng. Thật đáng thất vọng, năng lực kém quá!
Sau khi Yên di nương về viện, chẳng hiểu sao cả Hầu gia và Thế tử đều đổ bệnh. Họ đột nhiên ngã lăn ra xỉu, nằm dưới đất lâu nên bị nhiễm phong hàn, sốt cao.
Thực ra Ninh Thư thấy chỉ xỉu thôi thì chưa đủ đô, cô liền “khuyến mãi” thêm vài giọt nước đá rải lên người họ, đợi khi họ đông cứng mới dùng linh lực hong khô quần áo để xóa dấu vết. Thực ra giọt nước cũng không lớn lắm, chỉ cỡ nắm tay thôi, nhưng để tụ được bấy nhiêu nước Ninh Thư đã phải dốc hết sức bình sinh, cảm thấy cơ thể như bị rút cạn.
Ninh Thư nhắm thẳng vào bụng mà nhỏ nước, vì bụng là nơi dễ nhiễm lạnh nhất. Phong hàn ở thời cổ đại là thứ có thể lấy mạng người như chơi. Hai trụ cột trong nhà đều ngã bệnh, lão phu nhân cuống cuồng hết cả lên, vừa phải lo cho con trai lại vừa phải trông cháu nội.
Ninh Thư túc trực bên cạnh Thế tử, nửa bước không rời. Cô tự tay lau người, sắc thuốc, bón cơm, đêm cũng chẳng màng chợp mắt. Tóm lại là hoàn thành xuất sắc bổn phận của một người vợ hiền.
Hầu phu nhân dẫu có giận, có hận đến đâu thì khi chồng bệnh cũng phải tận tình chăm sóc. Dù gì đi nữa, người này vẫn là chỗ dựa duy nhất của bà ta.
Tận dụng lúc Hầu gia và Thế tử nằm bẹp một chỗ, đây chính là thời cơ vàng để đối phó Yên di nương.
Thế tử vừa tỉnh lại đã đòi Ninh Thư gọi Yên di nương sang hầu hạ vì “nhớ nhung”.
Ninh Thư: “…” Đúng là cạn lời. Nếu là nguyên chủ chắc tức đến trào máu họng rồi.
Ninh Thư vẫn giữ nụ cười chuẩn mực, gật đầu bảo: “Vâng, để thiếp đi gọi. Chàng cứ đợi đấy.”
Ninh Thư đích thân sang viện của Yên di nương. Đây là lần đầu tiên hai người đối mặt riêng tư. Yên di nương hành lễ hỏi: “Không biết Thế tử phi sang đây có việc gì?”
“Thế tử bệnh rồi, muốn di nương sang hầu bệnh. Được Thế tử sủng ái như vậy đúng là phúc phận của di nương.” Ninh Thư tiến sát lại gần: “Quả nhiên là một mỹ nhân.”
Yên di nương cảm thấy người cổ đại đúng là phiền phức vãi ra, hết chuyện này đến chuyện nọ. Đâu có sướng như thời hiện đại, quấn quýt xong là ai đi đường nấy. Cậu ta đành phải sang hầu bệnh, hằng ngày bưng trà rót nước, sắc thuốc đút cơm cho Thế tử.
Ninh Thư thì thong thả tận hưởng, thỉnh thoảng lại dùng thuật thôi miên rỉ tai mọi người rằng: Yên di nương chính là yêu quái, Hầu gia và Thế tử bị ả hút cạn tinh khí nên mới đổ bệnh không dậy nổi.
Người mà tinh thần bạc nhược thì rất dễ sinh bệnh. Mà Lão phu nhân thì cực kỳ mê tín. Dẫu thời trẻ bà ta có tung hoành hậu viện, ra tay tàn độc đến đâu thì khi về già, dù để an lòng hay để chuộc lỗi, bà đều rất tin vào thần Phật.
Tin đồn này lọt đến tai Lão phu nhân, bà càng ngẫm càng thấy đúng, lập tức cho người đi mời một vị cao tăng đắc đạo ở chùa hoàng gia về xem xét. Xem xem trong cái phủ này có thực sự ẩn chứa yêu nghiệt gì không.
Vị cao tăng khoác cà sa vàng rực đi dạo một vòng quanh phủ, nhìn qua tất cả mọi người, kể cả đám nô tỳ. Ánh mắt ông ta cứ đảo qua đảo lại giữa Ninh Thư và Yên di nương.
Ninh Thư vẫn giữ vẻ điềm tĩnh. Bà đây đây có mệnh cách hoàng hậu, khí vận đầy mình, làm Thế tử phi là còn hơi phí đấy.
Vị cao tăng không nói thẳng mà cầm bút viết một bài thơ lên giấy, bảo rằng huyền cơ đều nằm trong đó. Ninh Thư bĩu môi: Hứ, cứ nói huỵch tẹt ra đi cho xong, cứ thích chơi trò tâm linh.
Lão phu nhân cung kính đón lấy tờ giấy, không quên cúng dường cho chùa một khoản tiền dầu đèn lớn. Ninh Thư chẳng biết bài thơ đó viết gì, nhưng sau đó thái độ của Lão phu nhân với cô tốt lên trông thấy, dịu dàng niềm nở như đối với cháu gái ruột.
Ninh Thư: “…” Cái quái gì vậy? Đừng có hành xử kỳ lạ thế, tôi sợ đấy. Ước chừng vị cao tăng kia đã phán điều gì đó khiến bà già này thay đổi thái độ nhanh như chớp.
Lão phu nhân lập tức cấm cửa Yên di nương, không cho hầu hạ bên cạnh Thế tử nữa, sợ tinh khí của cháu bị hút sạch, làm ảnh hưởng đến vận khí của cả phủ. Không thể vì một con hồ ly tinh mà làm tiêu tan sản nghiệp tổ tiên được.
Đại sư đã phán: Mệnh cách của nữ nhân này xung khắc với Hầu phủ, không thể giữ lại, nếu không vinh hoa phú quý sẽ tan thành mây khói, đại họa ập xuống đầu.
Để lại một bình luận