Khoảng thời gian đó, ở khu vực Tứ Xuyên – Trùng Khánh luôn lưu truyền một lời đồn. Rất nhiều người khẳng định rằng họ đã nhìn thấy trong lũ quét, hoặc trong những con suối hẻo lánh ở vùng núi, có vài sinh vật kỳ quái đang trôi nổi. Hình dạng của chúng khá giống con người, nhưng lại có sự khác biệt rất lớn so với con người.
Tôi đã nghe nói về chuyện này từ rất sớm, nhưng theo tôi, đó chỉ là một truyền thuyết đô thị nhằm thu hút sự chú ý mà thôi. Tôi tự nhận mình là người có học, từng lên đại học, dĩ nhiên rất khinh thường những câu chuyện quái đản kiểu này.
Thế nhưng tôi không ngờ lời đồn cực kỳ hoang đường và khó tin ấy lại lan truyền rộng đến vậy. Thậm chí không ít người dân trong các bản làng vùng núi còn đặc biệt tìm đến hỏi ý kiến của tôi về chuyện này.
Quan điểm của tôi rất rõ ràng: đây hiển nhiên là câu chuyện do một nhóm người bịa ra, chỉ nên nghe cho vui như mấy truyện vỉa hè, hoàn toàn không thể coi là thật.
Cho đến khi tôi nhận được lá thư Lâm Thiên Sơn gửi tới.
Lúc đầu tôi hoàn toàn không hiểu vì sao một học giả có thân phận như ông ấy lại tán thành kiểu thuyết nghe qua đã thấy vô lý như vậy.
Để thuyết phục ông ấy, tôi thậm chí còn trích dẫn kinh điển, tìm ra rất nhiều lý lẽ để phản bác.
Trong văn hóa dân gian của vùng Tứ Xuyên – Trùng Khánh, thậm chí trong toàn bộ Hoa Hạ, không thiếu những đồ đằng mang hình dạng nhân hóa. Trong Sơn Hải Kinh, Hoài Nam Tử, Thập Di Ký đều từng nhắc đến.
Nhưng Lâm Thiên Sơn lại dùng chính quan điểm của tôi để phản bác ngược lại tôi. Ông ấy nói rằng nếu trong nhiều truyền thống dân gian địa phương, thậm chí cả trong những thần thoại kinh điển đều từng nhắc đến loại quái vật có hình dạng như vậy, thì điều đó chứng tỏ chúng từng tồn tại dưới một hình thức nào đó trong thực tế. Chỉ là theo thời gian trôi qua, hình tượng ấy dần bị bóp méo, trong quá trình truyền miệng từ người này sang người khác mới biến thành những câu chuyện thần thoại được lưu truyền rộng rãi.
Đây là lần đầu tiên tôi nghe thấy kiểu lập luận như vậy. Trong chốc lát tôi thậm chí không nghĩ ra được nên dùng bằng chứng gì để phản bác.
Nhưng quả thật đây cũng là lần đầu tiên tôi thấy có người dùng những thư tịch như Sơn Hải Kinh — vốn được giới học thuật chính thức công nhận là không đáng tin — làm căn cứ lập luận theo chiều hướng khẳng định.
Nếu Lâm Thiên Sơn viết những suy nghĩ này thành một bài luận rồi công bố, chắc chắn sẽ bị coi là kẻ điên. Nhưng lúc đó, không hiểu vì trực giác gì, trong khoảnh khắc tôi lại đồng ý với ông ấy.
Trong thư, Lâm Thiên Sơn nói rằng ông từng tận mắt nhìn thấy loại quái vật có ngoại hình gần giống con người kia. Ông còn nói mình đã giải phẫu một xác của sinh vật như vậy. Bên trong thi thể chảy ra không phải máu, mà là một loại dịch tế bào màu xanh lục.
Ông nói mình đặt các lát cắt tế bào dưới kính hiển vi để quan sát, và kinh ngạc phát hiện ra rằng những tế bào đó không phải là tế bào động vật, mà là một loại tế bào có cấu trúc và chức năng tương tự như nấm.
Sau khi đọc bản báo cáo quan sát của ông ấy, cuối cùng tôi cũng thay đổi cái nhìn về chuyện này. Nếu những gì Lâm Thiên Sơn nói đều là thật, thì đây chắc chắn là một phát hiện lớn có thể lật đổ nhận thức của giới học thuật hiện nay.
Khoảng thời gian đó Lâm Thiên Sơn gửi cho tôi khá nhiều thư. Cách dùng từ trong thư của ông ấy trông rất điên cuồng, lời lẽ cũng hỗn loạn. Tôi nghĩ chắc ông ấy quá kích động.
Với thái độ nghiêm cẩn “trăm nghe không bằng một thấy”, tôi bàn bạc với Kiến Dân, quyết định đến Tứ Xuyên tìm Lâm Thiên Sơn để cùng hỗ trợ ông ấy tiến hành nghiên cứu này.
Nghe nói chúng tôi sẽ đến, Lâm Thiên Sơn rất vui, nhưng ông dặn chúng tôi đừng nói chuyện này ra ngoài. Dù sao loại phát hiện điên rồ như vậy, trước khi có bằng chứng xác thực hơn, tốt nhất vẫn nên nghiên cứu trong phạm vi nhỏ. Nếu không rất dễ gây ra chấn động lớn.
Trong quá trình đó còn xảy ra không ít chuyện, ở đây tôi sẽ không kể tỉ mỉ từng việc.
“Con Mắt” xuất hiện với thân phận là trợ lý của Lâm Thiên Sơn. Ban đầu tôi không quá chú ý đến anh ta. Cho đến khi chúng tôi đến nơi đó, nhìn thấy nơi đó, tôi mới hiểu rằng “Con Mắt” khác với chúng tôi.
Chúng tôi đã khảo sát hai hố tế tự chỉ thuộc riêng về nền văn minh Cổ Thục. Đồ đằng con mắt có địa vị cực kỳ cao trong nền văn minh của họ, điều này cũng được phản ánh trong dấu vết lịch sử mà chúng ta hiện nay còn nắm giữ…
……
Đọc đến đây, Bùi Linh Linh dừng lại. Cô kinh ngạc phát hiện cuốn sổ này đã bị ai đó xé mất mấy trang, khiến nội dung trở nên cực kỳ rời rạc.
Những trang bị xé chính là phần ghi chép khi bà Lưu đi công tác ở Tứ Xuyên.
Cuốn sổ là do con quái vật đầu người thân rắn kia nhét cho cô. Lẽ nào chính nó đã xé mất mấy trang này?
Nó không muốn cô biết những thông tin liên quan sao?
Từ nội dung nhật ký trước đó của bà Lưu, những quái vật trôi ra từ lũ quét và suối nhỏ mà bà nhắc đến, hẳn chính là loại sinh vật đầu người thân rắn kia.
Bùi Linh Linh không ngờ những thứ đó lại không phải thực vật, mà là sinh vật nấm. Điều này quả thực khiến người ta kinh ngạc.
Chỉ cần nghĩ đến nấm, trong đầu Bùi Linh Linh liền hiện ra hình ảnh những cây nấm khổng lồ…
Những cây nấm khổng lồ hình con rắn…
Sau khi nhìn thấy cái tên “Kiến Dân” trong cuốn sổ, Bùi Linh Linh càng chắc chắn cuốn sổ này thuộc về bà Lưu. Trước đó cô từng nghe bác Lưu Nhị nói bà Lưu có một người họ hàng tên là Lưu Kiến Dân.
Bùi Linh Linh quay đầu nhìn Hoàng Hiểu Ngọc ở bên cạnh rồi hỏi: “Hồi trước lúc học bài Thục Đạo Nan, thầy có nhắc đến nước Cổ Thục không?”
Hoàng Hiểu Ngọc lộ ra vẻ mặt ngơ ngác. Cô thậm chí còn đọc lại mấy câu trong Thục Đạo Nan: “Tàm Tùng cập Ngư Phù, khai quốc hà mang nhiên…”
Sau đó mắt Hoàng Hiểu Ngọc bỗng sáng lên: “À mình nhớ ra chút rồi. Hình như lúc thầy giảng Thục Đạo Nan, thầy có viết lên bảng chữ Thục trong cổ văn. Chữ Thục thời xưa trên đầu có một con mắt rất lớn.”
Được Hoàng Hiểu Ngọc nhắc như vậy, Bùi Linh Linh cũng nhớ ra. Đúng là như thế.
Bởi vì vào thời kỳ Cổ Thục, người dân vùng Tứ Xuyên – Trùng Khánh cực kỳ sùng bái con mắt.
Do khu vực Tứ Xuyên quanh năm mây mù dày đặc, không nhìn thấy mặt trời, nên người ta hy vọng mình có thể sở hữu đôi mắt có thể xuyên thấu màn sương. Như vậy họ sẽ nhìn được xa hơn, thậm chí có thể nhìn thấy cả mặt trời.
“Con Mắt” là một đồ đằng rất quan trọng ở vùng Xuyên Thục, vì vậy trong chữ “Thục” của nước Cổ Thục, cấu tạo của chữ này vốn được tạo thành từ một con mắt khổng lồ. Chữ “Thục” hiện nay vẫn giữ cách cấu tạo đó, phần trên là bộ “mục”, cũng có nghĩa là con mắt.
Trong cuốn sổ, bà Lưu đã nhiều lần nhắc đến từ “Con Mắt”. Bùi Linh Linh đọc đi đọc lại mấy lần mà vẫn không hiểu lắm, “Con Mắt” ở đây rốt cuộc có nghĩa là gì.
Nhưng từ cách dùng từ của bà Lưu có thể thấy, “Con Mắt” ở đây hiển nhiên không mang nghĩa vốn có của nó, mà giống như một đại từ, hoặc nói đúng hơn là mật danh của một người nào đó.
“Con Mắt” là cách gọi thay cho một người.
Bùi Linh Linh nhíu mày. Cô có trực giác rằng “Con Mắt” này là một manh mối cực kỳ quan trọng.
Con mắt có liên quan đến nước Cổ Thục, mà người này lại dùng “Con Mắt” làm mật danh của mình. Điều đó tuyệt đối không thể chỉ là trùng hợp, bên trong nhất định ẩn giấu ý nghĩa bí mật nào đó.
…Hoặc cũng có thể không phải người đó dùng “Con Mắt” làm mật danh, mà là bà Lưu vì lý do nào đó nên gọi người ấy như vậy.
Hiện tại Bùi Linh Linh không thể phán đoán được trong lời miêu tả của bà Lưu có bao nhiêu phần là ẩn dụ phóng đại, lại có bao nhiêu phần là ghi chép chân thực, nên tạm thời cô vẫn chưa hiểu hết toàn bộ ý nghĩa của những câu chữ này.
Điều đó khiến Bùi Linh Linh nhớ lại câu nói kỳ quái mà cô từng nhìn thấy trước đây dưới đáy hang động, cũng như trong cuốn sổ tay của Tô Khả.
“Đừng thò tay vào trong con mắt.”
Có khả năng nào “con mắt” trong câu nói đó cũng không phải là con mắt theo nghĩa thông thường, mà là chỉ một người?
Nhưng “con mắt” ở đây, bất kể là con mắt thật hay là một người, thì việc “thò tay vào” cũng là một khái niệm rất khó hiểu.
Trước đây Bùi Linh Linh từng nghĩ “con mắt” là chỉ hang động hình con mắt trong hồ nước, còn câu nói kia có nghĩa là không được đi vào trong hang.
Nhưng bây giờ xem ra, câu nói đó, “con mắt” đó… dường như còn ẩn chứa ý nghĩa khác.
Đang suy nghĩ như vậy, Bùi Linh Linh đột nhiên nhớ đến Thẩm Đồng.
Nếu bỏ qua họ, cái tên Thẩm Đồng chẳng phải cũng mang nghĩa là con mắt sao? Con mắt, con ngươi…
Bùi Linh Linh bỗng nảy ra một suy nghĩ rất buồn cười: người được gọi là “Con Mắt” trong cuốn sổ của bà Lưu… chẳng lẽ chính là Thẩm Đồng?
Nhưng nghĩ lại thì điều đó làm sao có thể được.
Thẩm Đồng trông chỉ khoảng hơn hai mươi tuổi. Cho dù anh ta có gương mặt trẻ lâu, thì nhiều nhất cũng chỉ hai mươi bảy hai mươi tám, cùng lắm là ngoài ba mươi. Trong khi thời điểm bà Lưu ghi lại những dòng nhật ký này, e rằng Lưu An Duyệt còn chưa ra đời.
Bùi Linh Linh không suy nghĩ thêm nữa. Cô tiếp tục đọc nội dung phía sau của cuốn sổ. Chữ viết vẫn rất mờ, trật tự câu cũng khá lộn xộn.
(Những đoạn dưới đây, “tôi” là bà Lưu.)
Những lời Lâm Thiên Sơn nói gần đây, tôi hoàn toàn không tin!
Những suy nghĩ hoang đường đó chỉ khiến thế giới này đi đến hủy diệt!
Những thứ kia căn bản không thể khiến toàn bộ loài người đạt được trường sinh!
Đó chỉ là một lời nói dối khổng lồ, một cái bẫy!
Đó là thủ đoạn lừa gạt của những giống loài ngoại lai đối với nhân loại. Hơn nữa tôi dám khẳng định, sự lừa gạt của chúng đã kéo dài hàng trăm, hàng nghìn năm, từ mọi phương diện, bằng mọi cách thẩm thấu vào tư tưởng của con người. Thậm chí trong rất nhiều kinh điển tôn giáo hay các truyền thuyết dân gian liên quan, tôi đều phát hiện ra dấu vết của chúng.
Điều này rất đáng sợ. Tôi đã tìm được rất nhiều bằng chứng có thể chứng minh điều đó.
Trong tín ngưỡng bản địa có việc thờ phụng người rắn, tôn Nữ Oa và Phục Hy – những hình tượng đầu người thân rắn – làm thần sáng thế, coi rồng là điềm lành.
Ngoài ra, ở rất nhiều quốc gia cách xa vạn dặm, cũng từng tồn tại tập tục tôn thờ đồ đằng rắn. Ví dụ như thần rắn có cánh trong văn hóa Maya, lễ hội thần rồng ở vùng Lưỡng Hà…
Vì sao ở những địa điểm khác nhau, những nền văn minh khác nhau, những thời kỳ khác nhau, lại xuất hiện sự sùng bái đồ đằng giống nhau đến vậy?
Ngoài khả năng giao lưu văn hóa ra, còn một khả năng khác, đó là trong những nền văn minh ấy từng xuất hiện những hình tượng cao quý tương tự. Những hình tượng đó khiến con người sùng bái, rồi theo thời gian dần dần ảnh hưởng đến nhân loại.
Tôi đã loại trừ khả năng giao lưu văn hóa, bởi khoảng cách thời gian hình thành của các nền văn minh này rất lớn. Nếu muốn truyền bá cùng một tín ngưỡng thông qua giao lưu văn hóa, trừ khi tất cả những nền văn minh ấy đều xuyên không đến cùng một thời đại.
Vì vậy kết luận của tôi là, ở những nơi đó từng xuất hiện cùng một loại sinh vật. Chúng được người dân bản địa tôn làm đối tượng tín ngưỡng cao quý để thờ phụng.
Mà những sinh vật đó, tôi dám khẳng định, chính là những sinh vật nấm bốc ra mùi hôi thối kia!
Tôi không hiểu rốt cuộc mục đích của chúng là gì, nhưng trong mắt chúng, nhân loại không phải là đối tác hợp tác, mà là nô lệ! Không có con người nào có thể chiếm được lợi ích gì từ tay chúng!
……
Lời tác giả:
Cảnh báo: Tôi đang nói nhảm! Tôi đang nói nhảm! Tôi đang nói nhảm!
Hoàn toàn là thế giới giả tưởng, tuyệt đối đừng xem là thật!
Để lại một bình luận