Editor & Beta: Khuynh Vân
Trời giữa hạ, nắng gay gắt, ve kêu inh ỏi.
Dòng sông Thanh Dương uốn mình chảy qua Yên Châu thành náo nhiệt ồn ào, sau một hồi quanh co ngắn ngủi, cuối cùng lặng lẽ trôi về phía bờ liễu xanh rì.
Ven sông có một căn nhà gỗ, dưới bóng râm của hàng liễu rũ trước cửa nhà, một thiếu nữ tên là Văn Âm đang nằm trên chiếc ghế dựa thoải mái. Nàng một tay cầm cần câu thả xuống nước, tay kia lại ôm một cuốn sách cũ kỹ đến mức mép giấy đều đã quăn góc, vừa đọc lơ đãng vừa hóng gió.
Dòng nước êm đềm chảy qua, tiếng nước róc rách rơi vào tai như gió thoảng. Văn Âm thỉnh thoảng ngẩng đầu nhìn phao câu dưới nước, nhưng mãi vẫn không thấy động tĩnh.
Từ xa có người đi tới, tay xách giỏ trúc, vừa đi vừa than: “Theo đệ thấy, cá trong sông này sớm đã bị bọn kia dọa chạy mất rồi, sư tỷ mà còn câu thì chắc chắn cũng chẳng câu được đâu.”
Người vừa tới là một thiếu niên,l mặc một bộ áo vải thô cũ kỹ, tóc tai buộc lỏng lẻo sau gáy, trông có phần luộm thuộm.
Thấy thiếu niên đến gần, Văn Âm liền đặt sách xuống, mỉm cười hỏi: “A Triết, trong giỏ có gì vậy?”
Thiếu niên tên A Triết xách giỏ nhìn Văn Âm ngẩn người một chút, nhất thời chưa kịp trả lời.
Văn Âm chẳng buồn đợi cậu mở miệng, lập tức bỏ cả sách lẫn cần câu xuống, tự mình mở giỏ ra lục tìm, thấy có bánh điểm tâm cùng bình trà thì mặt mày liền rạng rỡ, tự nhiên lấy ra ăn uống ngon lành.
Văn Âm là sư tỷ của A Triết, lại còn là người đứng đầu trong môn phái của họ. Thế nhưng người này lại mang dung mạo trẻ trung dịu dàng, thân hình nhỏ nhắn, nhìn qua chẳng khác gì đồng niên với A Triết. Biết nàng đã bao năm, A Triết vẫn không sao nảy sinh được cảm giác kính sợ đối với vị sư tỷ này.
Cậu thở dài một tiếng, thấy Văn Âm sắp ăn sạch cả giỏ, vội bước tới kêu than: “Sư tỷ, đó là phần của hai người mà! Tỷ cũng phải chừa cho đệ chút chứ!”
Văn Âm cắn một miếng bánh nhỏ, chẳng hề bận tâm, cười nói: “Rảnh rỗi không câu được cá thì phải tìm gì đó mà giết thời gian thôi. Phần này nếu không đủ, sư đệ, hay là quay lại thành mua thêm đi.”
A Triết sớm đã nhìn thấu bản tính ham ăn lười làm của vị sư tỷ này, cậu bất lực lắc đầu: “Đệ đã nói rồi, ở đây căn bản câu không được cá, cá đều bị bọn kia hù cho chạy hết rồi.”
Văn Âm nhướng mày, nhìn mặt nước phản chiếu bóng liễu dưới nắng, thấp giọng nói: “Không câu được cá, thì câu người cũng được mà?”
A Triết: “…”
Hai người liếc nhau, nghĩ đến những chuyện xảy ra dạo gần đây, vẫn cảm thấy chẳng khác gì ác mộng.
Văn Âm vốn là người ưa tĩnh lặng.
Một năm trước, nàng đưa A Triết lang bạt khắp nơi, cuối cùng chọn được một nơi phong cảnh hữu tình ngoài Yên Châu thành để dừng chân.
Chính là nơi bọn họ đang ngồi câu cá bây giờ.
Hai người dựng nhà tại đây, vất vả một hồi cũng xem như có được một chốn yên tĩnh mà nghỉ ngơi.
Nào ngờ chưa đến một tháng, Văn Âm đã phát hiện bản thân nhìn lầm rồi—nơi này căn bản là chẳng yên tĩnh chút nào.
Một tháng sau, ngay trước cửa nhà, Văn Âm bắt gặp ba người đàn ông lén lút lảng vảng.
Ban đầu nàng tưởng là trộm, suýt nữa ra tay dạy dỗ một trận. Ai ngờ sau khi hỏi rõ, mới biết mấy người này là hạ nhân của các đại hộ trong Yên Châu thành, đến đây là để tìm một loài hoa dại tên “Hương Thanh”. Nghe đồn nơi này có loài hoa đó mọc nên bọn họ tức tốc kéo nhau đến.
Văn Âm không hiểu nổi tính nết bọn nhà giàu, càng không hiểu vì sao lại phải vắt chân lên cổ đi tìm một bông hoa dại, thấy vô vị liền mặc kệ cho họ, cũng không thèm can thiệp nữa.
Ai ngờ hôm sau vừa mở cửa ra, nàng đã thấy nhà mình bị người ta vây kín, cả đám người ngồi xổm dưới đất cẩn thận lục tìm từng ngóc ngách, tìm hoa mà như lục tung hiện trường phá án.
Lúc này Văn Âm mới nghe ngóng rõ, thì ra mấy người đến tìm hoa đều là công tử của các gia tộc ở Yên Châu, mà mục tiêu của họ chỉ có một—loài hoa Hương Thanh ấy là loài hoa mà đại tiểu thư của Tạ gia trong thành, Tạ Dung Huyên, yêu thích nhất.
Công tử thiếu gia trong thành vì muốn lấy lòng mỹ nhân, đều sai người đi khắp nơi tìm hoa, ai tìm được trước thì đem dâng lên trước, mong đổi lấy nụ cười của giai nhân.
Vậy là đám người đó cứ thế chiếm cứ ngoài nhà Văn Âm suốt năm ngày liền. Năm ngày sau, rốt cuộc có người tìm được một nhành Hương Thanh vừa nở ngay dưới chân tường ngoài nhà nàng. Văn Âm chỉ biết trơ mắt nhìn họ đào cả bông hoa lẫn một mảnh vữa tường nhà nàng, nâng như trân bảo mà rời đi. Nàng dở khóc dở cười, chỉ thấy may mắn là cuối cùng cũng đuổi được đám quấy nhiễu kia.
Nhưng cuộc sống yên ổn của Văn Âm cũng chẳng kéo dài được bao lâu.
Hai tháng sau, bỗng dưng dưới sông trước nhà nàng xuất hiện vô số hoa đăng trôi dạt.
Hoa đăng thì đẹp đấy, nhưng Văn Âm rảnh rỗi chỉ còn mỗi thú vui câu cá, đang yên đang lành lại bị đám đèn trôi lềnh bềnh phá hỏng, thật chẳng phải chuyện vui vẻ gì. Tưởng chỉ trôi vài ngày rồi thôi, ai ngờ trôi mãi mấy tháng trời.
Một ngày nọ, Văn Âm rốt cuộc nhịn không được, xắn tay áo vớt một hoa đăng lên, rồi nhìn thấy một mảnh giấy giấu trong đèn.
Người ta thả hoa đăng luôn có mục đích, hoặc là cầu phúc, hoặc là cầu duyên. Văn Âm rất muốn biết rốt cuộc là điều ước gì mà khiến đèn cứ trôi mãi chẳng dứt như thế.
Mở mảnh giấy ra, trên đó chỉ viết ba chữ—Tạ Dung Huyên.
Nét chữ có phần cẩu thả, song lại mạnh mẽ hữu lực, hẳn là bút tích của một nam tử.
Văn Âm nhíu mày, liền vớt thêm vài cái nữa, quả nhiên bên trong đều viết tên Tạ Dung Huyên, nét chữ và hình dạng đèn lại không giống nhau, hiển nhiên không phải do cùng một người làm ra.
Văn Âm sai A Triết vào thành dò hỏi, lúc này mới biết mấy tháng trước, đại tiểu thư Tạ gia từng thả đèn hoa trên sông trong lễ hội hoa đăng, sau đó vì nụ cười của nàng khi ấy mà khiến đám thiếu gia công tử trong thành điên đảo, đua nhau thả đèn suốt mấy tháng liền, bày ra cảnh nghìn đèn rực rỡ, chỉ mong lại thấy nàng mỉm cười.
Sau vài phen như vậy, Văn Âm ghi khắc ghi cái tên đại tiểu thư Tạ Dung Huyên kia vào tận trong xương cốt. Nữ tử như thế, chắc chắn là “hồng nhan họa thủy”, không biết còn sẽ khiến Yên Châu thành xoay vần đến mức nào.
Quả nhiên, những ngày sau đó trong Yên Châu thành chuyện lạ liên tiếp xảy ra, vì tranh nhau lấy lòng Tạ Dung Huyên mà các công tử gần như dốc hết mọi tuyệt chiêu, náo loạn cả thành. Ngay cả Văn Âm sống ngoài thành cũng bị ảnh hưởng mấy phen.
May mà với nàng, tất cả đều là sóng gió ngoài cửa, chẳng can hệ gì, nàng cũng chẳng buồn quan tâm.
Thế nhưng vài tháng sau, Văn Âm rốt cuộc phát hiện—mình vẫn đánh giá thấp năng lực của vị đại tiểu thư Tạ gia kia rồi.
Hôm đó Văn Âm đang ngồi câu cá bên sông, thế mà lại câu được… một người đàn ông.
Người này mặc y phục sang trọng, vừa nhìn đã biết là xuất thân quyền quý, chẳng rõ có phải là một trong những kẻ từng thả hoa đăng kia hay không. Sau khi cứu người tỉnh lại, Văn Âm và A Triết đứng hai bên trái phải, nghiêm túc đánh giá vị khách lạ.
Người kia chưa kịp mở miệng, Văn Âm đã ho nhẹ một tiếng, thử thăm dò: “Để ta đoán xem.”
Người nọ mặt mày ủ ê, không hiểu gì mà trừng mắt nhìn nàng.
Văn Âm híp mắt hỏi: “Ngươi rơi xuống sông, cũng là vì Tạ Dung Huyên, đúng không?”
Người kia sững lại, không nhịn được hỏi: “Sao cô biết?”
Văn Âm liếc mắt với A Triết, hai người đều hiện rõ vẻ “quả nhiên là vậy”. Trải qua bao nhiêu chuyện, cái tên Tạ Dung Huyên với họ đã quá quen thuộc rồi, trong Yên Châu thành nếu có chuyện gì xảy ra, tám chín phần mười đều có liên quan đến nàng ấy.
Hai người liếc nhau đầy ăn ý, Văn Âm vỗ vai người nọ, có chút thương xót an ủi: “Ngươi cũng đừng quá đau lòng.”
Không nói thì thôi, vừa nhắc đến lại khiến nam nhân kia trông càng thê thảm hơn, khóe miệng méo xệch, mặt mày đau khổ như mất cha mẹ.
Văn Âm vội vàng tiếp lời: “Ta biết ngươi đang khổ sở gì nhưng mà thiên hạ thích Tạ Dung Huyên đâu chỉ một mình ngươi, nàng không chọn ngươi, cũng chẳng đến nỗi phải nhảy sông tự vẫn đâu.”
Lời an ủi này chẳng những không có tác dụng, mà còn khiến người kia khóc lóc thảm thiết hơn. Văn Âm không hiểu tại sao hắn ta lại đau lòng đến thế, bèn bắt đầu đoán mò:
“Tạ đại tiểu thư tát ngươi một cái?”
Người kia không để ý đến nàng, vẫn cứ khóc ròng.
“Hay là… nàng bệnh rồi?”
“Hay nàng sắp gả chồng?”
Đoán một hồi, người nọ rốt cuộc ngẩng đầu lên, đôi mắt tràn đầy bi phẫn, nghẹn ngào khóc:
“So… so với mấy cái đó còn nghiêm trọng hơn…”
“Còn nghiêm trọng hơn?” Văn Âm thực sự không thể nghĩ ra còn chuyện gì bi kịch hơn nữa.
Người kia thở dài một tiếng, nước mắt tuôn rơi:
“Tạ tiểu thư…nàng là… là một nam nhân…”
Để lại một bình luận