“Nếu có oan khuất, dẫu cho sông núi cách trở, thì Hạ mỗ cũng nhất định làm sáng tỏ chân tướng trước toàn dân thiên hạ.”
Danh ngôn nổi tiếng của Hạ Thanh Thiên đại lão gia mà ngay cả đứa trẻ ba tuổi cũng biết đến, cuối cùng cũng đã xuất hiện rồi!
Các cung nữ bị câu nói này làm cho rung động, mấy lời tàn nhẫn cũng không thể nói thành câu.
Mặc dù tự tiện xông vào cung của phi tần chính là trọng tội, nhưng điện Đan Hoa hiện tại đang bị phong tỏa vì là nơi phát án, cho nên bọn họ tạm thời không dám tự ý làm chủ, bèn quay về thông báo lại với Đức phi.
Sau thời gian khoảng một chén trà, toàn bộ điện Đan Hoa đều sáng rực ánh đèn, bắt đầu thẩm vấn Thúy Nhi.
Mặc dù Đức phi đã đồng ý, nhưng vì phải chỉnh chu y phục trong đêm nên khá tốn thời gian, mà Thôi Trừng và Hạ Lạc Địch cũng không tiện chờ nàng ta, hai người bắt đầu yêu cầu Thúy Nhi trần thuật lại một năm một mười những gì đã xảy ra.
“…Những gì nên nói, lúc trước nô tỳ đã khai hết một lần rồi ạ.”
Thúy Nhi chỉ phát tác bệnh điên vào ngày thứ hai sau vụ án, đêm đầu tiên khi người trong cung đến ghi lời khai, cô ta đã nói rằng sau khi Đức phi đưa Tề Vương phi hồi cung nghỉ ngơi, trên đường quay về, cô ta đã thấy có bóng người lơ lửng bên cửa sổ của Phật đường.
“Vậy tại sao lúc đó ngươi không báo lên?”
“Lúc đó nô tỳ cũng đã ngà say, cộng thêm bóng cây lay động ở Phật đường, vì vậy nô tỳ nghĩ là mình bị hoa mắt, sau đó liền tranh thủ thời gian chợp mắt chốc lát.”
Cung nữ bên cạnh không phục: “Con tiện tỳ này nói dối mà cũng không thèm nghĩ sẵn trong đầu nữa, đêm hôm đó cung yến thiếu người, nương nương đã điều gần hết cung nữ ra ngoài, làm sao có thể để nó say rượu mà đi gác đêm được chứ.”
Thúy Nhi do dự liếc nhìn một trong những cung nữ vừa đánh cô ta khi nãy, nói: “Là lỗi của nô tỳ, do nô tỳ tham ăn… Nhưng hôm đó là Tiết Trung Nguyên, chỉ có mình cung nữ tam đẳng như nô tỳ phải ở lại trông giữ cửa cung, sau khi nương nương đưa Tề Vương phi về cung rất lâu mà vẫn chưa trở ra, nô tỳ đang mơ màng ngủ gật thì nhìn thấy hình như có bóng người đang treo lơ lửng trên cửa sổ của Phật đường. Sau khi dụi mắt nhìn kỹ lại thì bóng người đó đã biến mất. Nô tỳ còn đang suy nghĩ liệu mình có bị hoa mắt hay không, khi ấy A Tường tỷ tỷ đã bước tới cười nhạo nô tỳ ngày thường tay chân vụng về, không được nương nương ưa thích nên mới bị bỏ lại nơi này. Mọi người ai cũng đều vì nương nương mà làm việc cơ mà… Trong lòng nô tỳ không phục, cho nên sau khi nương nương rời đi, nô tỳ đã lén đến Cung Nữ Sở để trộm rượu của A Tường tỷ tỷ, uống đến say chuếnh choáng… Cho đến khi cung yến kết thúc, Tề Vương điện hạ đến điện Đan Hoa đón Vương phi về phủ, mới phát hiện không thấy Vương phi đâu, sau đó thì nghe nói Vương phi đã treo cổ trong Phật đường rồi.”
Có bóng người treo cổ trong Phật đường, chuyện này xảy ra sau khi Đức phi đưa Tề Vương phi hồi cung, cung nữ nhất đẳng theo hầu bên người cũng bị nàng ta sai đi chuẩn bị y phục mới để thay.
Mà vào lúc vụ việc xảy ra, lần thứ hai Đức phi hồi cung mới phát hiện Tề Vương phi không còn ở trong trắc điện, sau khi tìm kiếm khắp nơi thì phát hiện thị đã treo cổ chết trong Phật đường rồi. Tề Vương điện hạ đến đón Vương phi của mình hồi phủ, nghe tin thị đã chết liền lập tức xông vào điện Đan Hoa, vừa bước vào Phật đường, thấy tử trạng của Vương phi thì liền ngất xỉu. Cả hoàng cung rối tung cả lên, người muốn lấy thuốc thì đi lấy thuốc, người tìm thị vệ thì chạy đi tìm thị vệ. Sau khi mọi chuyện dần ổn định, lúc đối chiếu lời khai thì họ phát hiện ra chỉ có Đức phi mới có điều kiện gây án.
Giết chết Tề Vương phi, khắc kinh văn lên lưng thị, rồi treo thị trong Phật đường, ba bước này không thể bỏ qua cái nào, dù thế nào đi nữa cũng phải mất không ít thời gian.
“Đồ tiện tỳ vong ân phụ nghĩa này.” Cung nữ nhất đẳng A Tường bên cạnh Đức phi, liếc mắt hung hăng trừng cô ta, nói: “Thôi Thống lĩnh, Hạ đại… Tài nhân, trước đây Thúy Nhi từng hầu hạ trong cung của Tịnh Tần, vì có thói quen ăn cắp ăn trộm, bị Tịnh Tần bắt được nên bị xử lý theo cung quy. Nếu không phải nương nương chúng ta thương hại nó còn nhỏ tuổi, đại phát từ bi cầu xin Tịnh Tần cứu nó một mạng, thì sao có thể để nó có cơ hội mưu hại nương nương chúng ta như bây giờ được?”
Hạ Lạc Địch hỏi Thúy Nhi: “Lúc đó ngươi uống rượu xong thì cảm thấy thế nào?”
Thúy Nhi hồi tưởng lại: “Không có cảm giác gì hết , nô tỳ chỉ thấy nửa bên mặt nóng lên, sau khi nghỉ ngơi thì bắt đầu run rẩy, trước mắt như có bóng ma lơ lửng… rồi sau đó mất luôn ý thức.”
“Vậy thì không giống như là đột nhiên phát điên.”
Hạ Lạc Địch nhìn qua Thôi Trừng, hắn cũng hiểu ý ngay, mở miệng nói:
“Đây là trúng độc.”
Các cung nữ khác trong điện Đan Hoa đều sững sờ, vội vàng nói: “Chúng nô tỳ đã mời ngự y dùng châm bạc thử qua rồi ạ, đầu châm không hề bị đen.”
“Châm bạc cũng không thể phát hiện ra tất cả các loại độc, đối với phần lớn độc từ thảo mộc, có dùng châm bạc cũng không có hiệu quả đâu.” Hạ Lạc Địch hỏi: “Thứ rượu đó còn không?”
“Hết rồi ạ.” A Tường xanh mặt nói, “Rượu đã bị nha đầu kia uống hết sạch rồi, bình rượu linh tinh cũng đã được thái giám dọn dẹp sạch sẽ, nhưng mà…”
A Tường muốn nói gì đó nhưng lại thôi, vào lúc này, mành trướng trong điện được vén lên, Đức Phi Lý Bạch Sương lạnh lùng đi vào trong điện.
“Để bản cung nói. Rượu đó là Câu Đằng Tửu mà Hoàng hậu ban tặng, vì vị nặng còn làm nóng ruột nên bản cung đã ban cho các cung nhân một phần.”
Hoàng hậu ư?
Trong điện đột nhiên trở nên yên tĩnh, yên tĩnh đến mức có thể nghe thấy cả tiếng kim rơi.
Ở chốn hậu cung này, khắp nơi đều có thể thấy được sự tranh đấu gay gắt giữa Hán Phi và Phiên Phi. Nguyên nhân chính là khi Hoàng đế còn là Việt Vương, đã cưới một cô nương người Phiên làm Vương phi, sau khi lên ngôi, vì để yên lòng các chư hầu tứ phương, lại liên tiếp nạp thêm rất nhiều phi tần từ các nước phụ thuộc.
Chuyện về Hoàng hậu, người từng làm mưu sĩ cho Việt Vương phủ như Hạ Lạc Địch, tất nhiên là biết rõ như lòng bàn tay.
Hoàng hậu họ Lam, xuất thân từ Tam Miêu nước Thục, thân phận vô cùng đặc biệt — Trước khi trở thành Việt Vương phi, nàng ấy đã từng là Vương Thái hậu của nước Thục.
Lam thị khi còn trẻ là mỹ nhân nổi tiếng khắp Tam Miêu, bị tên Thục Vương hôn quân ngu xuẩn đời trước nhìn trúng, bèn diệt toàn tộc của nàng ấy rồi đưa nàng về cung sắc phong làm Vương hậu. Trước nàng, Thục Vương đã từng giết ba vị Vương hậu. Để được sống sót, Lam thị buộc phải nhờ vào độc thuật của bản thân để hạ độc Thục Vương, rồi nâng đỡ nhi tử Vu Mông của lão ta, cũng chính là Thục Vương hiện tại, ngồi lên ngôi vị.
Với sự giúp đỡ của Lam thị, Vu Mông đã báo được thù cho mẫu thân mình, nên hắn ta tôn nàng ấy lên làm Vương Thái hậu, lại cho rằng Lam thị còn trẻ, không cần phải thủ tiết vì Tiên vương, nàng ấy xứng đáng có được một phu quân đầu đội trời chân đạp đất xứng chí nam nhi. Trong thời cuộc hỗn loạn khi ấy, trong mắt Vu Mông chẳng có mấy ai xứng danh anh hùng kiệt xuất trên thế gian này, bèn hướng về phía Bắc Yên chủ động xin gặp Chu Minh cầu thân.
Nào ngờ, sau khi sứ đoàn Thục quốc đến được Yên đô, Yên hoàng Chu Minh lại sỉ nhục Lam Chức Huỳnh là quả phụ, không xứng để kết duyên. Vu Mông nhục quá hoá giận, trên đường trở về Thục quốc thì gặp được Việt Vương đang ngao du thiên hạ, sau vài chén rượu, hắn ta cho rằng hắn rất có chí anh hùng, bèn mạnh mẽ mang Việt Vương về nước mình rồi nhấn đầu ép phải cưới nàng ấy.
——Ngươi là huynh đệ tốt của ta, nên ta gả mẫu thân ta cho ngươi.
Mối hôn sự tưởng chừng như hoang đường này lại đổi lấy được chi viện khoảng năm vạn quân mũi nhọn của Thục quốc, giúp cho thế lực vốn đơn yếu của Việt Vương trong “loạn Tam Vương” làm nên sự nghiệp lớn, lần lượt đánh đuổi Bắc Yên, dẹp loạn nội bộ và bước lên ngôi Hoàng đế. Chỉ trong vài năm ngắn ngủi đã khiến khí phách Đại Ngụy đổi mới hoàn toàn.
Có thể nói rằng, nếu lúc ấy không cưới được Lam Hoàng hậu, có lẽ Đại Ngụy đã bị diệt vong dưới vó ngựa sắt của Bắc Yên.
Hiện tại quốc lực của Đại Ngụy đã trở nên hùng mạnh, nhưng một số lão thần lại lo lắng về huyết thống của Lam Hoàng hậu, hơn nữa Hoàng hậu đã nhiều năm không con, để cân bằng thế lực của Phiên Phi mới yêu cầu Lý Thái sư đưa cháu gái bảo bối của mình vào cung.
Lúc Hạ Lạc Địch còn ở trong triều, nàng chưa bao giờ tham gia vào việc buộc tội hay chỉ trích Hoàng hậu, dù sao thì làm người cũng không thể vong ân bội nghĩa, làm vua một nước thì càng phải một lời nói một gói vàng, luận điệu về huyết thống đều chỉ là cái cớ mà mấy lão già bảo thủ lôi ra để củng cố quyền lực của mình.
Nhưng bây giờ thì lại phiền toái rồi đây.
Chuyện Hoàng hậu biết độc thuật không khó để tra ra, nếu sau khi Thúy Nhi uống rượu do Hoàng hậu ban tặng mới trúng độc ăn nói lung tung, thì việc này e rằng sẽ dẫn đến nhiều vấn đề ngoại bang nữa.
Thục quốc là huynh đệ giao bang, Hoàng đế và Thục Vương còn là bằng hữu kết nghĩa tâm giao, đây cũng là một trong những lý do quan trọng khiến Bắc Yên không dám xâm lược phương Nam.
“Nương nương, có thể tạm gác chuyện này lại được không?” Chỉ trong nháy mắt mà Hạ Lạc Địch đã nghĩ được rất nhiều điều: “Vụ án này vẫn còn nhiều điểm đáng ngờ cần được làm rõ.”
Từ lúc Đức Phi bước vào điện đến giờ, đôi mắt phượng của nàng ta vẫn luôn nhìn chằm chằm vào Hạ Lạc Địch, mang theo ý đánh giá lướt từ đỉnh đầu cho đến ngũ quan, lại nhìn từng cử chỉ dáng người, nghe vậy, nàng ta cười lạnh một tiếng: “Hóa ra vị cựu Đại lý tự khanh chính trực ngay thẳng cũng có điều không dám làm, bản cung thật ngốc mà, cứ tưởng là một quân tử trong ngoài đồng nhất, suýt nữa thì đã định lầm chung thân rồi.”
Nói xong, nàng ta đi lên ngồi vào chỗ chủ vị.
Hạ Lạc Địch: “…”
Thôi Trừng quay đầu, dùng thanh âm chỉ mình Hạ Lạc Địch nghe được: “Sao nàng ta cứ nói mấy lời quái đản với ngươi thế, chung thân cái gì cơ?”
Hạ Lạc Địch không để ý tới hắn, hắng giọng nói: “Nương nương, chúng thần đang bàn về vụ án mà.”
“Nói đi, có phải bản cung không cho các ngươi nói đâu, nói đến đâu rồi? Thúy Nhi?” Đức Phi có ý coi thường trợn trắng cả mắt, “Bản cung nhớ ngươi là người của Tịnh Tần mà nhỉ, để mà nói thì Tịnh Tần cũng thật đáng thương. Trước khi xuất giá, phụ thân nàng ta là Vương đại nhân đã tìm một mối hôn sự cho nàng rồi, đối tượng là quan thanh liêm nhất đẳng trong triều, cứ tưởng có thể rửa sạch được xuất thân phản vương phủ của Vương gia, ai dè vị quan thanh liêm đó thẳng thừng từ chối, ngay cả cái danh bình thê cũng không buồn cho, vậy nên dưới sự giận dữ đã đẩy nàng ta vào trong cung này.”
Hạ Lạc Địch: “…”
Thôi Trừng: “Nàng ta đang nói về ai vậy?”
“Để bản cung nghĩ xem còn ai nữa không ta… À đúng rồi, còn Linh Phi ở cung Phi Tuyền, mặc dù ai đó đã có vợ con rồi nhưng mà nàng ta vẫn còn gửi không ít tệp thơ oán tình mùa xuân cho họ, làm mẫu thân của nàng là Huyện chủ Nam Sơn phải đến trước mặt Thái hậu để than phiền, rốt cuộc cũng bị bứng vào cung rổi đó.”
Hạ Lạc Địch: “…”
Thôi Trừng: “Lại nói về ai nữa đây?”
Thấy Hạ Lạc Địch mím môi không dám lên tiếng, Đức phi cười nhạt: “Sao Hạ Tài nhân lại không nói gì thế? Đừng có ngại nha, tỷ muội chúng ta trước đây đều là người quen, sau này cũng sẽ có nhiều cơ hội ở chung mà.”
Hạ Lạc Địch cảm thấy da đầu tê dại.
Khó trách vì sao Đức phi lại dám nói, tưởng đâu chỉ có mình nàng, nếu tính kiểu này thì hơn nửa cái hậu cung của Hoàng đế đều có vấn đề lớn à nha.
Mọi người muốn chết thì cùng chết thôi.
Ai nấy đều im phăng phắc, cuối cùng Đức Phi cũng móc mỉa xong, bèn uống một ngụm trà rồi nói: “Sao còn đứng nghệch ra đấy làm gì, tiếp tục thẩm án đi, hỏi tiếp đi kìa.”
Hạ Lạc Địch nhắm hờ mắt lại, tay đặt dưới cằm vuốt ve.
Thái độ của Đức Phi quá tự nhiên, giống hệt như ấn tượng đầu tiên lúc trước, không hề giống như đang diễn kịch, mà thật sự là không liên quan gì đến cái chết của Tề Vương phi.
Chỉ là tra án không thể dựa vào cảm giác, cần phải có chứng cứ rõ ràng.
Hạ Lạc Địch lại hỏi: “Thúy Nhi, đêm hôm đó ngươi thật sự nhìn thấy có bóng người treo trên cửa sổ của Phật đường à? Tại sao ngươi lại chắc chắn đó là một bóng người, mà không phải là mấy cái cờ lệnh?”
Thúy Nhi vội đáp: “Nô tỳ chắc chắn mà, bóng người đó có mũi có mặt, búi tóc cao, phản chiếu rõ ràng trên giấy cửa sổ.”
A Tường nói: “Trước đó ngươi nói là ngươi uống say nên không nhìn rõ, bây giờ lại nói chắc chắn nhìn rõ rồi, ai biết có phải ngươi đang nói bậy nói bạ hay không?”
Thúy Nhi hoảng sợ thoáng nhìn qua Đức phi, cũng may Đức phi không chú ý đến cô ta, mà đang nghiêng đầu nhìn Hạ Lạc Địch, bèn cả gan nói: “Trước đây nô tỳ từng làm việc trong tú phòng, nô tỳ có thể thử vẽ lại hình bóng đó.”
Hạ Lạc Địch cho người mang giấy bút đến, Thúy Nhi nhanh chóng vẽ lại hình dáng người kia.
Bóng dáng người kia được vẽ ra có chút mơ hồ, nhưng rõ ràng có thể nhận ra đó là đầu của một nữ nhân với búi tóc cao.
Trùng khớp với kiểu búi tóc của Tề Vương phi.
Nếu điều này là thật, vậy thì có thể thuyết minh rằng, trước khi Đức phi rời đi, trong nửa canh giờ ở cùng với Tề Vương phi, thì Tề Vương phi đã bị giết rồi.
Đức phi cười lạnh một tiếng, nhìn Hạ Lạc Địch nói: “Đây là kết luận của Hạ Tài nhân sao?”
Hạ Lạc Địch nói: “Đức Phi nương nương chớ nóng vội, thiếp có một giả thuyết, muốn đi đến chỗ Phật đường thêm lần nữa, kính xin nương nương sau nửa chén trà cùng đến để đánh giá xem sao.”
“Ta vừa đến mà ngươi đã muốn đi rồi, sớm biết vậy ta đã không trang điểm kỹ càng thế này.” Đức phi lại mỉa một câu, vuốt ve chiếc vòng ngọc trên cổ tay, đứng dậy nói, “Có vẻ như hôm nay không đợi được Hổ đầu trảm của Hạ đại nhân rồi, A Tường, đi thắp đèn đi.”
Lời của Đức Phi đêm nay một câu Hạ Lạc Địch cũng không dám cãi, đến khi ra khỏi cửa rồi, Hạ Lạc Địch mới dám thẳng lưng lên.
Thôi Trừng vẫn luôn im lặng từ nãy đến giờ, hỏi:
“Hoàng hậu, Đức Phi, ngươi nghi ngờ là bên nào có vấn đề?”
Hạ Lạc Địch: “Hoặc là cả hai bên đều không có vấn đề gì cả.”
“Ồ?”
“Mọi chứng cứ, cho đến thời điểm hiện tại, bao gồm cả loại rượu liên quan đến Hoàng hậu đã được tiết lộ đêm nay, đều chỉ là bị nghi ngờ có liên quan mà thôi, ta vẫn chưa nghĩ ra được thủ pháp mà hung thủ đã gây án.”
Làn gió đêm thổi tung vài sợi tóc mái bên tai của Hạ Lạc Địch, nàng đưa tay vuốt lại và nói: “Nếu xét theo tư tâm, dường như Đức Phi không hề có thái độ nào giống với một tên hung thủ. Với địa vị của nàng ta mà nói, đổi lại là ta, ít nhất nên làm ra vẻ như là không thèm để ý đến, hoặc sẽ mang bộ dáng không thẹn với lương tâm. Nhưng tối nay nàng ta còn có thời gian nhàn nhã nhắc lại chuyện cũ với ta từ mấy năm trước, chứng tỏ rằng từ tận đáy lòng, nàng ta cảm thấy mình vô tội.”
“Chuyện cũ?” Thôi Trừng giật mình hỏi: “Ngươi và nàng ta còn có chuyện cũ gì nữa?”
Hạ Lạc Địch vẫn không thèm trả lời hắn, tiếp tục đắm chìm trong suy nghĩ về vụ án: “Nói xa một chút, nếu Thúy Nhi đã bị đầu độc bởi rượu của Hoàng hậu, phát điên lên cung cấp lời khai giả, khiến cho Đức phi trở thành người có hiềm nghi lớn nhất… nhưng tại sao Hoàng hậu biết Thúy Nhi có thể nhìn thấy bóng ma treo trong Phật đường nhỉ?”
Thôi Trừng: “Vậy rốt cuộc ngươi và Đức phi có chuyện cũ gì?”
“Nếu Thúy Nhi là người của Hoàng hậu, thì việc đầu độc cô ta phát điên chẳng phải là làm chuyện thừa thãi à? Chi bằng trực tiếp lén ra lệnh cho cô ta vu khống Đức Phi còn hơn.”
Thôi Trừng: “Ngươi và Đức phi…”
Có vẻ như đã bị hỏi đến phát phiền, Hạ Lạc Địch dừng bước, ánh trăng như tơ lụa rơi trên mái tóc dài mềm mại của nàng, đôi mắt đen như mặc ngọc nhìn về phía Thôi Trừng.
“Thôi Thống lĩnh.” Nàng hỏi: “Họ ‘Thôi’ trong triều này rất hiếm thấy, nghĩ tới nghĩ lui thì chỉ có mẫu gia của Thái hậu mang họ Thôi, ngài với bệ hạ là họ hàng à?”
Hô hấp của Thôi Trừng khựng lại trong một giây, hắn gật đầu nhẹ, ánh mắt lảng tránh sang một bên: “Xem như là vậy.”
“Thảo nào, ngài với bệ hạ giống nhau như thế.” Không biết Hạ Lạc Địch đang suy nghĩ điều gì mà nói: “Nếu ngài đã là Thống lĩnh trong cung, xin hãy quan tâm nhiều hơn đến vụ án, thay vì quan tâm đến một phạm quan như ta.”
Nói xong, nàng bước đi trước, đuôi tóc tung bay theo gió vô tình lướt qua mu bàn tay của Thôi Trừng.
Thôi Trừng đứng yên không nhúc nhích cả một lúc lâu, đợi đến khi bóng dáng của Hạ Lạc Địch gần như biến mất, hắn mới nương theo ánh trăng nhìn lại mu bàn tay vẫn còn lưu lại cảm giác mát lạnh như nước của mình. Chỉ đến khi Cao Thái giám hồng hộc chạy đến, hắn mới thu lại những dòng suy nghĩ như lạc vào cõi thần tiên.
“Bệ… Thôi Thống lĩnh, sao ngài lại chạy nhanh như vậy, lão nô đuổi không kịp nữa rồi. Bây giờ sao rồi ạ, Hạ Tài nhân nói thế nào?”
Thôi Trừng đưa tay lên chỉnh lại chiếc mặt nạ nóng ran của mình và hỏi: “Nàng có bao giờ ám chỉ trước mặt ngươi rằng, sau khi ta đưa nàng vào cung… lại chẳng quan tâm đến nàng không?”
Cao Thái giám mờ mịt lắc đầu.
Thôi Trừng lý giải tư tưởng của mình một chút rồi nói: “Vậy ra ngươi cũng cảm thấy lạ khi cả tháng nay ta không để ý đến nàng rồi, đúng không? Thực lòng mà nói, trước đây cứ cách vài ngày là phải cắn răng chịu đựng nàng trách móc khuyên can, cả tháng rồi không ai nói năng gì, nói thẳng ra thì có chút không quen.”
Cao Thái giám: “……” Ngài đang nói cái vẹo gì vậy, rất là không đúng phép tắc đó.
Cao Thái giám: “Ờm thì, lão nô xin phép nói thêm một câu, tuy rằng ngài đang nghỉ ngơi, nhưng ít nhất ngài cũng nên làm bộ như đang tra án đàng hoàng, nếu không Đức Phi nương nương…”
“Chỉ cần Hoàng tẩu vô tội, Hoàng huynh nhất định sẽ bảo vệ nàng ta chu toàn. Ta xưa nay chỉ lo chuyện quân vụ mà thôi.” Bất tri bất giác, Thôi Trừng đã nắm lấy đuôi phất trần của Cao Thái giám, vừa vuốt ve vừa lùi lại mà hỏi: “Ngươi đã thấy nhiều nữ tử trong hậu cung như vậy, thường thì mấy nữ nhân sẵn sàng vì người khác sáng đi chiều về, giúp người không tiếc cả mạng sống như nàng thường thích cái gì?”
Cao Thái giám: “Hậu cung thường không có mấy người như vậy đâu ạ.”
Chưa kịp để Thôi Trừng hỏi tiếp, từ xa bỗng vang lên tiếng thét chói tai của Thúy Nhi: “Có quỷ… có quỷ!! Oan hồn của Tề Vương phi đang treo trong Phật đường kìa!”
Thôi Trừng ngẩng đầu lên nhìn, chỉ thấy giữa những cành lá đan xen là Phật đường nhỏ đã sáng đèn, và trên cửa sổ giấy dưới mái hiên Phật đường, đúng như những gì mà Thúy Nhi vẽ trước đó, có bóng dáng của một nữ nhân đang treo lơ lửng.
Gửi phản hồi