36.
Mỗi người đều có khổ quả của mình, liệu có thể hóa giải được duyên phận hay không, còn tùy vào sự tu hành của từng người. Nàng nói ra khổ quả của mình, ta thương xót nàng, nhưng không thể thương hại. Con người khó tránh khỏi có sự tự thương cảm, tự cho mình hơn người, hoặc cho rằng số phận trắc trở, thế gian không thể cứu rỗi, nhưng tâm ta có thể tự mình thanh tịnh. Tu hành thực chất là tu chính những gì mình làm, đúng là nàng đã trải qua nhiều đau khổ, nhưng những người nàng giết chết chẳng phải cũng đang chịu đựng khổ quả của nàng sao?
Khi nàng kể về quá khứ, giọng điệu bình thản như thể đang kể câu chuyện của bất kỳ ai. Rồi nàng chạm vào má ta, dịu dàng hỏi: Còn ngươi, vì sao lại trở về? Ẩn mình nơi dân gian không tốt sao? Hay ngươi nghĩ rằng chỉ bằng sức của mình có thể cứu vãn hoàng thành sắp diệt vong này?
Ta mỉm cười đáp: Khi đó ta không biết ai là người muốn lấy mạng ta, ta muốn hỏi cho rõ, dù sau này bước lên đường hoàng tuyền, cũng phải biết rõ mình nên oán hận ai.
Hoài Cẩn nói: Ra là vậy sao? Ngươi vốn không cần phải chết. Những sát thủ ở Giang Nam không phải đến để giết ngươi, chỉ là Tức Mặc Yên Đường thật sự là nhát gan như chuột, nên hắn không thể bắt sống thánh nhân thì đành lấy ngươi ra làm mục tiêu. Người đời đều nói ngươi là máu tim của Tức Mặc Yên Đường, nhưng giờ đây hắn trốn chui trốn lủi, có lẽ ngươi cũng không còn hữu dụng nữa. Giờ đây, dị quân sẽ tấn công quốc đô, chính thống hay không cũng chẳng sao, tìm không được Tức Mặc Yên Đường, vẫn có thể xưng đế. Ngươi hãy nghỉ ngơi đi, Đồng Quý phi, lần sau gặp lại, chúng ta thật sự sẽ gặp nhau ở điện Diêm La. Ngươi nhớ lấy, trên đường hoàng tuyền, đừng oán nhầm người.
Ta nói: Không sao, núi sông còn có ngày gặp lại.
Đầu đông năm thứ hai hồi cung, tuyết rơi bay vào ngục thất, ta đưa tay đón một bông tuyết, nếu bông tuyết này từ Yến Môn Quan rơi xuống thì thật là tốt. Tuyết tan trong lòng bàn tay, gió tuyết Yến Môn lớn rồi, khi nào chàng mới về nhà? May thay, Thứ Nỗ Hà Đôn vẫn chưa giáng lâm, ta biết rằng chàng vẫn còn sống.
Giữa đông năm thứ hai hồi cung, ta nằm trên chiếu cỏ lạnh như băng, đêm nhắm mắt, tiếng binh khí va chạm vọng vào tai, ta thấy vó ngựa tung cát, xác chết chất chồng, chàng mang mặt nạ bạc ngồi trên đống xác chìm trong máu.
Bỗng một tiếng động đinh tai làm ta tỉnh giấc, người đến đầy giận dữ, tát ta một cái, ta bị đánh đến hoa mắt chóng mặt, nhìn kỹ lại, thì ra là Tất Điêu Hoài Cẩn. Lần đầu tiên ta thấy nàng tức giận đến vậy, như một con dã thú trong rừng sâu. Nàng nắm cằm ta, giọng đầy phẫn nộ hỏi: Người trong điện Huyền Chính là ai đưa đi? Tại sao trong Đại Khuyết Cung toàn là võ binh Lạc Dương phủ? Sao Nam Cương hầu lại can thiệp vào trận chiến ở Yến Môn Quan? Còn vị tướng lĩnh đeo mặt nạ bạc tấn công vào hoàng thành này là ai?
Ta nở nụ cười: Người đời đều nói ta là máu tim của Tức Mặc Yên Đường mà.
Nàng từ từ ngã xuống góc tường, nàng nói: Ta đã viết ba mươi phong quân lệnh gửi khẩn cấp cho hắn nhưng không nhận được hồi âm nào. Lần này, e rằng hy vọng của ta lại tan vỡ, khổ quả không thành quả rồi. Ta à, mãi mãi là một kẻ cô đơn.
Đêm ấy, lửa ngoài ngục cháy rực trời, khói lửa chiếu sáng Cửu châu mười bốn thành, như sao rơi từ chín tầng trời. Người ta chờ đợi nhất định sẽ bình an trở về.
Sáng sớm mùa đông năm thứ hai hồi cung, cuối cùng Thứ Nỗ Hà Đôn không giáng lâm, ánh sáng mặt trời len qua khe ngục, bình minh đã lên, cánh cửa ngục từ từ mở ra, ánh sáng buổi sớm mùa đông xua tan gió tuyết, người đến mặc áo giáp, tay phải tháo mặt nạ, mở miệng liền nói: “Ngọc Nhi, ta đến đón nàng.”
Tất Điêu Hoài Cẩn tự vẫn trước khi trời sáng, Trường Tôn Dị mà nàng mòn mỏi chờ đợi đã bị thuộc hạ phản sát trước cửa Tuyên Vũ. Sau khi chết, tay Trưởng Tôn Dị vẫn nắm chặt ba mươi phong quân lệnh. Khi ấy nàng nói e rằng hy vọng tan vỡ, khổ quả không thành quả, thật ra lần này nàng không còn là người cô đơn nữa.
Mùa xuân năm thứ ba hồi cung, ta cùng Niệm Sơn đến quê hương Tiêu Túc ở Phái Trang. Nơi này dân phong thuần phác, cách xa chốn đô thành, bách tính sống bằng nghề canh tác. Một phụ nhân nông thôn dẫn chúng ta đến nhà Tiêu Túc, cửa nhà đổ nát, nghèo khó, trong nhà chỉ có một bà lão, chắc hẳn là mẫu thân của Tiêu Túc. Tiêu mẫu thấy chúng ta mang bạc đến, bà sợ hãi lùi lại, bà run rẩy hỏi: Có phải con ta làm quan lớn rồi không? Ta gật đầu: Phải. Tiêu mẫu hỏi: Vậy bao giờ nó về nhà? Ta đáp: Hiện nay quốc sự bận rộn, e rằng khó về sớm, số bạc này đều do Tiêu thống lĩnh giao phó, gửi đến để phụng dưỡng tôn thân.
Tiêu mẫu ngồi bên cửa sổ im lặng, phụ nhân nông thôn bên cạnh hỏi: Nhi tử nhà bà thật sự làm quan lớn rồi sao? Sao không thấy phong cáo về quê?
Niệm Sơn bất ngờ nói: Thánh nhân đã ban chiếu, miễn thuế Phái Trang ba năm.
Sắp xếp xong mọi việc, trước khi rời đi, Tiêu mẫu đột nhiên đứng dậy, nhờ ta nói với nhi tử của bà: Sau này ở triều đình, cần phải trung quân và tận trung với vua, chỉ cần làm điều tốt, không cần tiền đồ.
37.
Hạ chí năm thứ ba hồi cung, sổ sách Nam Bắc quốc xuất hiện sai sót, ban đêm thấy ngài vẫn vùi đầu vào công văn. Sau đó, ta trở lại sinh hoạt ở Điện Ngô Đồng, kịch trong Tam Thu các kể về biến cố tại cửa Tuyên Vũ. Trong án Tất Điêu thị, hậu cung mất đi nhiều người, vì vậy các thần tử xin được tuyển tú nữ, ngài đã đồng ý. Tháng bảy, tân phi nhập cung, lần này, ta thật sự trở thành người cũ trong cung rồi. Năm ấy, ta ba mươi tuổi.
Mùa thu năm thứ ba hồi cung, ta mười bốn tuổi vào cung, đến nay đã mười sáu năm, chưa từng tranh sủng với ai. Ta từng nghĩ rằng mình sẽ sống yên bình trong hậu cung suốt đời, nhưng rồi ta phải thừa nhận rằng dường như ngài đã thay lòng. Dù trong những ngày nhàn hạ cũng hiếm khi ngài đến cung của ta, bên cạnh ngài là những tân phi trẻ đẹp. Ngài không đến, ta đành đi gặp nhưng khi thấy ta, ngài chỉ im lặng thật lâu. Lần đầu tiên trong lòng ta nghe thấy tiếng nói này: Ngươi muốn tranh sủng cùng với những tân phi trẻ trung sao.
Mùa đông năm thứ ba hồi cung, tuyết trắng bay đầy, một mình ta đứng trước cửa Điện Huyền Chính, tuyết phủ lên vai ta. Lần cuối ta gặp ngài là tại buổi tiệc sinh thần của Vân Chiêu nghi, khi ấy là tháng mười. Nay đã là tháng mười hai. Những người quét tuyết đều cười nhạo ta, thì ra đây chính là nỗi cay đắng của việc thất sủng.
Sau yến tiệc đêm Giao thừa, ta định đi dạo trong hành lang Chu Tước, Thánh giá đột nhiên dừng trước mặt ta. Ta hạ mũ trùm, ngài đưa tay về phía ta, lúc ấy, một cảm giác kinh ngạc bừng tỉnh, nam nữ trong tuyết đêm bám chặt lấy nhau. Ngài chỉ đường cho xe đi đến Vân Tầm, suốt chặng đường, ngài ôn hòa như trước, như thể nửa năm lạnh lẽo cô đơn này là do người khác gây ra cho ta.
Cung nhân cầm đèn cung tránh đi bốn phía, rõ ràng là giữa mùa đông, nhưng trên Vân Tầm vẫn trôi nổi những chiếc đèn hoa đỏ thắm. Ngài nắm tay ta đi vào tiểu trúc trên Vân Tầm, bước qua rèm lụa đỏ, cho đến cuối tiểu trúc, trên bàn có hai cây nến long phượng. Ta kinh ngạc nhìn ngài, ngài rút từ eo ra một cây ngọc địch, tiếng địch trong trẻo và réo rắt, gợi lại ký ức khi ta mới vào cung. Khi đó, ta ở một mình trong cung, đêm đêm lắng nghe tiếng địch mà vào giấc ngủ…
Ta ngơ ngác nhìn mọi thứ trước mắt, đèn hoa, trăng sáng, rèm lụa đỏ, nến long phượng, Thánh nhân quân, mọi thứ trên đời khiến nữ nhân động lòng đều hiện diện trước mắt ta. Một khúc nhạc kết thúc, ngài đặt ngọc địch xuống, rồi từ trên bàn lấy ra một bản văn thư. Cung nhân lén nhìn, như thể thứ ngài đang đưa ra là một chiếu thư phong hậu.
Hắn nói: Đây là thư hòa ly đã soạn từ một năm trước.
Phải, là thư hòa ly.
Trẫm và quý phi Bạch thị, hợp làm phu thê, hợp nhau trong tư tưởng, hợp nhau trong ân ái.
Trẫm biết Bạch thị có ba điều yêu thích: thích rượu ngon, thích hoa ngô đồng, thích sự tự do.
Nguyện sau khi Bạch thị hòa ly, được trọn chén rượu, ngập hoa tươi, phiêu diêu nơi núi xa.
Ngàn dặm hồng trần tặng nàng, cuốn mưa gió, ôm mây trời, mong nhìn núi biển.
Xin hiểu cho trẫm bạc phúc, không thể trao cho nàng duyên phận ba kiếp.
Ta yêu Kinh Ngọc, tháng năm này, chớ để quên lãng.
Mệnh như giấy mỏng, đời người xưng mỹ. Thì ra nửa năm lạnh nhạt xa cách này đều là tính toán từ lâu. Lần này, ngài không gọi ta là Ngọc nhi hay phu nhân, trong hoàn cảnh trang trọng như vậy, những danh xưng quá gần gũi luôn không thích hợp, vì vậy ngài từng chữ từng chữ nói: “Bạch Kinh Ngọc, nàng đi đi.”
Giết người thì dễ, sao cần phải đoạn tình, nửa đời mộng lớn, một tờ giấy giá ngàn vàng.
“Bạch Kinh Ngọc, tạ ơn Thánh nhân.”
Đèn cung sáng rực ba ngàn trượng, giang sơn vạn dặm hoàn cố nhân.
Trâm ngọc vì quân vấn tóc dài, một mái tóc xanh tạ ơn phu quân.
Áo trắng gãy liễu tiễn năm cũ, năm sau tân trang thành người mới.
Hồng trần vạn dặm cưỡi mây đi, khuyên quân xuân sắc chớ quay đầu.
Đó giờ đâu có câu chuyện truyền kỳ nào kết thúc tốt đẹp, từ một Quý nhân nhỏ bé, ta đã leo lên vị trí Quý phi, mười sáu năm qua, tất cả đều nhờ vào long ân.
Nhiều năm sau, ta cưỡi con tuấn mã rời khỏi Trung Nguyên, nhìn mỹ nhân Ba Tư, uống trà ở Lâu Lan, cùng với hán tử thảo nguyên phi ngựa trên chiến trường.
Sau này, tuấn mã của ta già đi, ta dần dần nhớ về cố hương.
Ta dắt ngựa già trở về Trung Nguyên, ngồi trong góc một quán rượu, người trẻ đi ngang va phải bát rượu của ta, nói một câu: Xin lỗi, đại nương.
Trẻ nhỏ dưới sảnh đọc thơ, phụ nhân sau nhà giặt y phục, vài người đọc sách ở bàn bên cười nói vui vẻ.
Một người đọc sách hỏi người đội mũ trắng: Gia tộc của huynh đài nhiều đời biên sử sách, chẳng hay tác phẩm ‘Văn Chu Liệt Quốc Chí’ mà gia tôn mới viết có thể cho ta mượn đọc?
Người đọc sách đội mũ trắng đáp: Phả hệ đế vương triều trước, các phần về vương hầu và tướng lĩnh đã được ghi chép xong, nhưng phần về cung đình, ghi chép về các phi tần trong hậu cung vẫn chưa hoàn tất.
Người đọc sách hỏi: Vì sao?
Người đội mũ trắng đáp: Hậu cung của Đại đế Tức Mặc Yên Đường có ba trăm tám mươi một phi tần, mười bảy người chết bệnh, một hoàng hậu bị phế, một phi tần phản nghịch, ba trăm sáu mươi hai phi tần còn lại đều tuẫn táng. Nhưng sau khi Tức Mặc Yên Đường hòa ly với Đồng quý phi Bạch thị, thế gian không còn tìm thấy Bạch thị, do đó, Điện Ngô Đồng này cuối cùng sẽ trở thành một khoảng trống trong sử sách.
Bỗng nhiên ta theo bản năng hỏi một câu: Tức Mặc Yên Đường mất khi nào?
Người đọc sách đáp: Tất nhiên là mười bảy năm trước, một năm sau khi hòa ly với Bạch thị, ngài băng hà ở Điện Ngô Đồng.
Phượng hoàng bay khắp Cửu Châu mười bốn thành, vạn dặm phong hoa, sắc đẹp xưa cũ, bụi trần rơi xuống, duyên phận kết lại, phượng ký ngô đồng, Ngọc niệm Sơn* , mong người xưa có thể ngoái nhìn, chẳng bằng một khúc gió bụi thổi qua.
*Ngọc niệm sơn, sơn ở đây là Niệm Sơn, niệm là hoài niệm nhung nhớ, chỗ này đúng ra nên để là ngọc nhớ núi nhưng vì nó mang ý nữ chính hoài niệm nam chính nên Vân để nguyên.
Hừ, thời gian nào có tha cho ai, thôi thì, uống rượu, uống rượu thôi.
——Ngoại truyện một: Trưng Viễn năm thứ mười bảy
Đương kim Thánh nhân là Trưng Viễn Hầu của Tức Mặc gia, hiện là minh quân thanh chính, quốc thái dân an, vạn chúng quy nguyên, thịnh thế không thể nào tốt đẹp hơn.
Kẻ sĩ ít viết tấu chương can gián, mà thường đến quán rượu uống rượu.
“Làm phiền phu nhân mở một hũ rượu Trần Trang.”
Ta ngẩng đầu khỏi sổ sách vụn vặt, giữa vài danh sĩ quạt phe phẩy bước vào, thoáng chốc gặp lại cố nhân.
Sau ba chén rượu, cố nhân chống tay lên má nhìn ta, xoa xoa râu tóc như cố gắng nhớ ra điều gì đó. Người ấy đưa tay chỉ vào ta, rồi nói với người nhàn sĩ say rượu bên cạnh: “Vị phu nhân này, ta từng gặp qua.”
Người nhàn sĩ rót đầy chén cho hắn, nói: “Lời này không đúng rồi, Tiết tử đến từ Lâm An, làm sao gặp được nương tử ở Giang Nam, có phải uống nhiều quá rồi mà nhớ về thời thiếu niên hào hoa…”
Cố nhân lắc lắc chén rượu, nằm nghiêng dưới cửa sổ, khẽ thở dài: “Mộng cũ thời thiếu niên hào hoa…”
Ta vô tình cúi đầu cười một cái, người ấy lập tức đặt chén rượu xuống, đứng dậy tiến về phía ta, hắn cúi đầu thi lễ: “Tại hạ là người Lâm An, tên gọi Tiết Thao.”
Ta đã biết điều đó, hắn vẫn như trước, lông mày mang theo khí phách thanh cao.
Tiết Thao cúi đầu nói: “Tại hạ từng có duyên gặp mặt phu nhân một lần.”
Ta đáp rằng: “Đúng vậy.”
Hắn nói: “Năm xưa ở kinh thanh ta từng thấy phu nhân cùng tôn phu dạo chơi kinh đô cả ngày lẫn đêm, không biết tôn phu hiện giờ có khỏe không?”
Ta đặt quyển sách xuống, thế gian như nước chảy mây trôi, chỉ đáp: “Phu quân đã mất rồi.”
Trước khi Tiết Thao rời đi, ta mang đến hai hũ rượu Trần Trang, xem như cảm tạ ân tình hắn nhớ đến ta suốt bao năm, dù gì trong giấc mộng hoang vắng này, ít ai còn nhớ đến ta và chàng.
Cỏ cây rụng lá, trời chưa sáng hẳn, ta đứng trước cửa, nhìn theo bóng dáng cố nhân rời xa, trong bức tranh thủy mặc mờ mịt, cố nhân bỗng nhiên quay đầu lại: “Phu nhân có thể cho ta biết danh tính của nàng không?”
Con cá trong ao nhảy lên bọt nước, ngọn nến trong nhà bị gió thổi tắt, con chim nhỏ đậu trên mái ngói, ánh sáng của núi sông khắc họa hình bóng thiếu niên của chàng, trong ngàn năm bụi phủ sau này, chỉ có một chữ Mặc Bạch thị, Kinh Ngọc.
——Ngoại truyện hai: Ghi chép của Chu Tốn
Nghe nói Thánh nhân đã hòa ly với Bạch phi, thư hòa ly được công bố khắp thiên hạ, người đời đều chửi rủa Thánh nhân bội tình bạc nghĩa. Ngay cả phu nhân của ta cũng ngày ngày rửa mặt bằng nước mắt, phụ nhân vốn đa sầu, Chu Lâm thị những ngày qua cứ bám riết lấy ta đòi hứa ngoại trừ phạm “thất xuất” (bảy điều khiến người vợ bị đuổi) không được ruồng bỏ thê tử. Ta nói: Phu nhân chẳng phải ngốc nghếch sao, Thánh nhân và Bạch phi là hòa ly, không phải ruồng bỏ.
Chu Lâm thị lau nước mắt: Sao lại hòa ly với Bạch thị nương nương, kẻ phụ tình nhất là Thánh nhân.
Ta ngẩng đầu thở dài một hơi: Thánh nhân là bất đắc dĩ mà thôi.
Ngài ấy, đúng là bất đắc dĩ mới làm vậy. Trận chiến ở cổng Tuyên Vũ, người đời chỉ biết đến sự dũng cảm của Chu gia, không ai thương xót Mặc Minh quân. Mặc gia và Chu gia vốn là quý tộc triều đình, năm xưa Phủ U Đại đế thống lĩnh Trung Nguyên, ngoại trừ tặc thần Trưởng Tôn gia, còn có Chu gia và Mặc gia. Mặc gia đời đời là ám ảnh, được phong hầu nhưng không thể chính danh.
Nếu năm đó Trưởng Tôn gia không quyết tâm tiêu diệt vị Minh Quân cuối cùng của Mặc thị, số phận của ngài sẽ giống như tổ tiên mà nộp mạng vào sinh tử thôi.
Chỉ là sau này, bởi số mệnh xoay vần, ngài trở thành Thiên tử của Văn Chu, Thánh nhân của thiên hạ, vậy nên ngài đã gỡ bỏ chiếc mặt nạ, ngồi lên ngôi cao nơi triều đình. Thực ra, Minh Quân thật sự từ trước đến nay chưa từng lộ diện, từ khoảnh khắc hắn gỡ bỏ chiếc mặt nạ đó, đã định sẵn một cuộc đời tựa lưu ly lặp đi lặp lại cả đời.
*Lưu ly: vốn là chất liệu thủy tinh trong sáng, nhưng cũng dễ vỡ, biểu trưng cho cuộc sống vừa đẹp đẽ vừa mỏng manh, dễ tổn thương. Lưu ly lặp lại cả đời là nhấn mạnh về tính chất vòng lặp của những biến cố hoặc nỗi đau, sự tổn thương mà nhân vật phải trải qua trong suốt cuộc đời, dù cho bề ngoài của cuộc sống có vẻ bình yên, trong trẻo.
Sau buổi triều sớm, ta đến Điện Huyền Chính, trong điện không có ai, đại thái giám nói: “Bệ hạ lại đi đến nơi cũ rồi.”
Ta hiểu ý, từ khi nàng ra đi, không một ngày nào ngài không đến nơi cũ, lúc thì ngẩn ngơ, lúc thì trầm tư, chung quy vẫn là một dáng vẻ suy yếu.
Chưa đến nơi cũ, lá ngô đồng đã cuốn theo gió rơi vào lòng bàn tay ta, lá rụng rồi, cũng như đời hắn, bụi trần đã lắng xuống.
Ta bước vào Điện Ngô Đồng, cuối thu, lá rụng lên vai ngài, hốc mắt sâu thẳm, viền môi tái nhợt, bệnh thập tử nhất sinh nhưng ánh mắt lại trong sáng lạ thường.
Nói ra thì, ta đã quen biết hắn mấy chục năm, hiếm khi thấy ngài suy sụp như thế này. Ta dùng cành cây chọc vào vai hắn, hỏi: Đại thái giám nói gần đây ngay cả thuốc thang ngài cũng không chịu uống, sao mà sống thọ được?
Bệnh của ngài không phải là bệnh nặng, những năm qua trong cung đã chịu không ít chất độc, thêm vào đó, bao năm chinh chiến, trận chiến Yến Môn Quan bị ba mũi tên độc của Lang Quân bắn trúng, thế mà còn sống trở về, ngài cũng từng là Mặc Môn Minh Quân khiến kẻ địch nghe thấy đã khiếp sợ, vậy mà…
Ta nói: Vốn dĩ ngài không cần để nàng ra đi.
Giờ đây ngài nói chuyện cũng rất khó khăn, cố gắng lắc đầu, đôi môi tái nhợt phát ra vài từ: Ta đã là người dầu hết đèn tắt rồi.
Chế độ tuẫn táng của hoàng thất từ bao đời là cơn ác mộng của không biết bao nhiêu hậu phi, ta biết đây là lần cuối cùng ngài lấy thân phận Đế vương để bảo vệ nàng.
Chỉ là… ta hỏi: Tại sao không phong nàng làm Hoàng hậu? Có thể tránh được tuẫn táng, cũng đạt được chính quả.
Ngài nói: Chính quả là gì? Giữ nàng lại trong cung sâu không thấy ánh mặt trời này để mà hủy hoại sao? Nếu ta còn sống, thì ta có thể bảo vệ nàng, nếu ta không còn… há có thể để người khác ức hiếp nàng…
Nghe lời ngài nói, ta tự hối hận vì đã thường ngày khắt khe với phu nhân của mình, phu thê nên lắng nghe nhau, tôn trọng và kính trọng lẫn nhau mới là điều đáng quý, tình nghĩa Mặc Bạch như vậy, sao có thể so sánh với duyên phận ba đời của người hường được.
Khi bước ra khỏi cung, ta bỗng muốn hỏi ngài một điều, ta quay đầu nói: “Cả đời cô độc lẻ loi, Bệ hạ có hối hận không?”
Ánh hoàng hôn rọi xuống, kéo dài bóng dáng ngài dưới gốc cây đồng và chiếc xích đu trong chiều thu, ngài quay lưng về phía ta, ánh tà dương nhuộm vàng quanh thân, thật lâu sau, dưới ánh hoàng hôn truyền đến một câu đầy kiên định:
“Không, ta không hối hận.”
Xa xa núi non xanh thẳm, trước mắt chỉ toàn sắc vàng úa, mùa thu đã tàn.
— Hoàn —
Gửi phản hồi