21.
Ngày mùng tám tháng mười năm đầu tiên xuất thế, ba mươi mấy loại hoa do Minh Lâu đưa ra được bày trên bàn, Phụng Nga phu nhân thử hương một lúc, chỉ chọn bốn loại: Ảo Thảo, Thất Tinh Hải Đường, Đu đủ, Mạn Đà La. Hắn cầm cối thuốc, nói: Chỉ có bốn loại này không phải do ta phối, còn lại đều là của ta. Ta ngồi xuống, hỏi: Vì sao năm xưa phu nhân chế độc hương này? Hắn dừng tay đang xử lý hương liệu, bình tĩnh nói: Năm đó ta mười bảy mười tám, tuổi trẻ khí thịnh, yêu một cô nương. Ta ngày ngày điều hương cho nàng, nàng thích hương của ta, ta tưởng nàng cũng thích ta. Sau này nàng gả cho người, có con.
Một ngày nọ, nàng khóc đến cửa ta nói, phu quân đối xử tệ với nàng, con khóc ngày đêm làm nàng kiệt sức, nàng thấy đời không còn gì để lưu luyến, muốn tìm cái chết. Ta không đồng ý, nàng liền quỳ gối trước ta, lúc đó lòng ta đau đớn. Thế là ta chế ra một loại hương, đốt nửa khắc có thể đoạt mạng người, hôm đó nàng chết trong lòng ta, một tiếng đa tạ đó ta nhớ rất nhiều năm. Ta hỏi: Cô nương đó tên Phụng Nga? Hắn nói: Đúng vậy.
Tháng mười một năm đầu tiên xuất thế,giải dược được gửi đến Mân Hồ, dịch bệnh được kiểm soát, ta bày tỏ lòng biết ơn, phu nhân chỉ phất tay áo rời đi, để lại một câu: Chỉ là trả ân thôi.
Giữa tháng mười một năm đầu tiên xuất thế, vụ án ở phủ Nam Công và vụ án ở chùa Bắc Sơn trở thành vụ án không có đầu mối.
Cuối tháng mười một năm đầu tiên xuất thế, cuối năm, ta vượt nước đến Cô Tô. Xuân thu đã qua, bánh bao trên phố vẫn thơm ngon, người nặn đường, bánh nướng, chè ngọt vẫn như xưa. Tuyết đêm rơi xuống sông, ta ngồi trong lầu các bên sông, chợt thấy trên tường treo một thanh kiếm gỗ, thanh kiếm này tuy cũ nhưng rất quen.
Chủ quán nói, đây là do Tô nương tử tặng vài năm trước. Tô nương tử nhà nào? Chủ quán nói: Quan Quan Tô Tần của Dương Xuân Lâu, vài năm trước một đồ tể đã giúp nàng thoát khỏi tiện tịch. Đáng tiếc gia chủ ép nàng ngày đêm dệt vải, nàng nói người giờ đã già không dám đeo kiếm. Đêm đó ta không ngủ, hình ảnh Tô Tần tràn đầy sức sống hiện ra trước mắt, nàng thích búi tóc, mặc áo xanh, eo đeo kiếm gỗ, nàng nói sau này sẽ đi đến nơi gọi là giang hồ. Khi đó ta còn nhỏ, bị hào khí của nàng làm động lòng, cũng vỗ tay khen giang hồ thật tốt. Nước mắt nóng hổi lăn xuống, mười năm đã qua, cuối cùng thì Tô Tần vẫn không đến được giang hồ của nàng.
Tháng chạp năm đầu tiên xuất thế, Giang Lâu, người đã tản mác, chủ quán hỏi: Sao tiểu thư không về nhà? Ta không trả lời, chủ quán lại hỏi: Phu quân của tiểu thư có biết người ở đây không? Ta lắc đầu, ngài không biết. Rượu trên lò đang sôi, ta giơ tay mở nắp nồi, bỗng một bàn tay nắm lấy tay ta, nói: Ai nói ta không biết.
Ngày mùng tám tháng Chạp năm đầu tiên xuất thế, lễ hội tháng Chạp tại Cô Tô, hương vị của cháo mùng tám tháng chạp lan tỏa khắp thành. Ta ngây người dựa vào lan can, nhìn dòng người tấp nập vào Bạch phủ. Mỗi dịp cuối năm, bá tánh thành Cô Tô đều mang điểm tâm đến nhà tổ để chúc tết. Đã lâu rồi ta không được nếm cháo mùng tám tháng chạp của mẫu thân. Nhà tổ gần ngay trước mắt, nhưng trong mắt người đời đã không còn có nhị tiểu thư của Bạch phủ. Ta đưa tay đón tuyết rơi, một đôi tay phủ lên tay ta, ngài ôm ta rồi nhẹ nhàng nói: Hôm nay Cô Tô có Bách Gia Yến, phu nhân có muốn đi cùng ta không? Ta nhìn vào thành, vui vẻ nói: Được.
Cháo mùng tám tháng chạp được nấu từ ngũ cốc tươi và hoa quả thu hoạch trong năm, mang ý nghĩa ăn mừng được mùa và tạ ơn thần linh. Ngài hỏi: Tại sao cháo ở Cô Tô lại ngọt? Ta ngạc nhiên nhìn ngài: Chứ không phải sao? Ngài điềm tĩnh nói: Quê ta lúc nào cũng ăn cháo mặn. Ta không dám tưởng tượng vị của cháo mùng tám tháng chạp mặn thế nào, ngài vỗ đầu ta: Lần sau sẽ dẫn nàng đi ăn. Có lẽ đây là sự khác biệt văn hóa giữa Nam và Bắc.
Ta nắm tay ngài dạo khắp Cô Tô, từ cây long não mà ta từng leo lúc nhỏ đến tư thục của phu tử, ngài như không chán mà nghe ta kể về mười bốn năm sống ở Cô Tô. Ta chỉ vào Đường Viên: Đó là Đường Viên, mỗi ngày sau giờ học ta đều cùng các học trò đến đó bắt đom đóm. Qua cửa hàng bán nước đường, ta kéo ngài vào uống một bát chè ngọt, ngài cau mày vì vị ngọt: Đồ ăn ở Cô Tô ngọt quá, thảo nào phu nhân lại ngọt như vậy.
22.
Chiều tà, tuyết trắng phản chiếu ánh sáng, đèn lồng đỏ treo trước phủ Cô Tô, bá tánh tự mang đồ ăn đến dự tiệc. Chúng ta ngồi ở góc Tây, nhìn đám đông tấp nập, ta nói: Đã nhiều năm không thấy cảnh này.
Trong Bách Gia Yến, mọi người bàn chuyện từ mùa màng đến lao dịch, từ gạo dầu muối đến Đồng Phi nương nương đã qua đời. Không ngờ nhiều năm trôi qua, ta vẫn sống trong ký ức huy hoàng của thành Cô Tô. Người ta nói: Năm đó nhị tiểu thư của Bạch phủ được vào cung, Cô Tô phủ ba năm thưởng nhỏ, năm năm nhận ân lớn. Chúng ta có phúc lành như hôm nay đều nhờ Đồng Phi nương nương được sủng ái. Lần đầu nghe người khác nói về mình, ta có chút ngại ngùng, ai ngờ ngài lại nói: Nói sai rồi. Ta ngạc nhiên nhìn ngài, ngài lại khẽ cười: Không phải sủng ái, mà là độc sủng.
Một bé gái bàn bên cạnh chạy đến hỏi ta: Tỷ tỷ sao lại che mặt? Ta định nói vì dung mạo bị hỏng, ai ngờ hắn nói: Tỷ tỷ của muội đẹp hơn Lý phi, nếu bỏ khăn che mặt, người khác sẽ ngắm nhìn, ta sẽ ghen. Ta đỏ mặt, bé gái hỏi: Sao tỷ phu đẹp như ngọc mà không che mặt? Ngài giả vờ thất vọng, ngửa mặt thở dài: Có lẽ tỷ tỷ của muội không quan tâm đến ta.
Tiệc đêm tan, ta đi tắm rồi ra ngoài nhưng không thấy ngài đâu. Sau ba khắc đợi dưới ánh nến, ngài từ bên ngoài bước vào, bỏ áo choàng xuống rồi để ô giấy sang một bên, tay ngài cầm một hộp thức ăn. Trong hộp có một bát cháo mùng tám tháng chạp, ngài nói: Phu nhân thử đi. Ta vui vẻ múc một muỗng cháo ngọt, vị cháo thật quen thuộc, ta hỏi: Ai nấu cháo này? Ngài đáp: Mẫu thân của nàng.
Mùa Đông năm thứ hai xuất thế, trước cửa Bạch phủ khách khứa tấp nập, ta quanh quẩn ngoài phủ một lúc lâu, cuối cùng không dám bước vào nhà tổ. Ngài nói: Năm sau ta sẽ cùng nàng trở về. Ta thở dài: Thôi, người đã chết rồi. Ngài lau nước mắt cho ta, nắm lấy tay ta, nhẹ nhàng nói: Năm đó ở núi Hộ Quốc, ta tuyên bố Đồng Phi chết là để cho Ngọc nhi điều tra vụ độc hương trong cung. Ta lau nước mắt: nhưng vụ án chưa kết thúc. Ngài nói: Không cần nữa, mời Đồng Phi theo ta hồi cung. Gió thổi tuyết bay đầy trời, ta hỏi ngài tại sao, ngài nói: Ta không nỡ để nàng ở lại một mình. Những năm qua, ta biết ngài yêu ta, nhưng có lẽ đến lúc này, ta mới thực sự yêu ngài.
Cuối đông năm thứ hai xuất thế, ngài nói chuyến đi này nhiều trắc trở, không bằng theo ngài về quê nhà. Ta nhớ lại Thanh Trần từng nói, Hoàng đế hiện tại không phải Thiên tử thực sự.
Ngủ trong xe mấy ngày, khi tỉnh dậy, ta đã đến Tang Châu. Trong ánh trăng mờ ảo, hiện ra một phủ đệ trước mắt, là Mặc Hầu phủ. Trong phủ chỉ có một người gác cổng già, ông chống gậy run rẩy đón khách. Ông nhìn kỹ ta và ngài, lâu sau mới chậm rãi nói: Là Tiểu Quận vương sao? Ta quay lại nhìn ngài, mặt ngài bị ánh trăng che khuất, chỉ khẽ gật đầu. Ông lão xúc động, tay run rẩy, nhìn ta: Vậy còn vị này? Ngài nói: Là phu nhân của ta.
Ngài dẫn ta đến nhà thờ tổ, ta theo sau, khi đến cửa, đột nhiên ngài quay lại, khuôn mặt có vẻ căng thẳng, khẽ nói: Ngọc nhi, vào cửa là nhà thờ tổ của Mặc gia. Ta gật đầu, mắt hắn nhòe đi, nghẹn ngào: Từ đầu đến cuối ta đã lừa nàng, ta chưa bao giờ là Hoàng đế. Ngài nói vậy, mắt nhìn chằm chằm ta, có vẻ sợ hãi, ta mỉm cười nắm tay lấy tay ngài: Mặc công tử, bây giờ thú nhận không muộn.
Ngài nói: Đây là nhà tổ của Mặc gia, tổ tiên theo tiên đế chinh chiến, hy sinh vì nước, huynh đệ thúc bá đều chết trên sa trường, chỉ còn lại ta. Mười hai năm trước, ta là Quận vương của Tang Châu.
Lúc đó, trong lòng ta như có cơn gió lốc, một đám lửa lớn sáng bừng trong đầu, hiện lên hình ảnh hoa phù tang, bữa tiệc biển mười hai năm trước, tiểu Quận vương mười hai năm trước, và Niệm Sơn mười hai năm trước. Ta ngẩng đầu, chiếc mặt nạ bạc khắc sâu trong tim ta mười hai năm qua, vận mệnh là gì, người trong lòng ta chính là người trước mắt. Nước mắt lăn dài, ta run rẩy đưa tay vuốt má hắn, nhẹ nhàng nói: Chàng là, Niệm Sơn.
Ngài gật đầu: Ngọc Nhi, ta đã nói sẽ đến Cô Tô tìm nàng.
Ta cười trong nước mắt: Tiểu Quận vương, mặt nạ của chàng đâu?
23.
Cuối đông năm thứ hai xuất thế, vào buổi sáng, ta lo lắng nhìn vào bếp nhỏ, nghĩ lại thấy hối hận khi xưa không học nấu ăn từ mẫu thân. Giờ đây, sau nửa ngày loay hoay, ta mới nấu được một nồi cháo nhão. Phu quân cười bước tới, nói: Phu nhân tự mình nấu ăn sao? Ta trừng mắt nhìn, bất lực nói: Làm sao bây giờ, đã làm thê tử rồi mà. Ngài cười uống hết một bát cháo, rồi nói với ta: Từ nay phu nhân không cần phải vất vả nữa. Ta nhìn người đang miệng lưỡi trơn tru, không còn chút nào vẻ nghiêm túc như tối qua. Khi đó ngài nói: Vào nhà thờ tổ, nàng trở thành người của Mặc gia, là thê tử của ta. Trăm năm sau, dù hóa thành cát bụi, ta cũng ở bên cạnh nàng.
Ta nói: Tương lai, sử sách chỉ ghi lại Hoàng đế Yên Đường, không có Mặc Niệm Sơn.
Ngài nói: Không sao.
Ta nhìn kỹ vào mắt ngài, trong đó là mười năm sông núi cuộn chảy, hạc mây bay lượn, muôn đời thịnh vượng. Ngài độc chiếm trên đỉnh mây, cảnh tượng thịnh thế được viết dưới ngòi bút của ngài. Trong giang sơn tráng lệ, dưới bầu trời sáng tỏ, ngài chỉ để lại một bóng dáng mờ ảo.
Ngày mồng hai tháng hai năm thứ hai xuất thế, mặt trời lặn phía Tây, màn đêm buông xuống. Qua ba cửa thành, cửa lớn của Hoàng cung dần khép lại, giữa quần thể các cung điện chỉ toàn mưu mô, có một cung điện uy nghiêm lặng lẽ nằm đó. Xe ngựa dừng trước cửa Tuyên Vũ, ta vén rèm, thấy dưới đất hàng trăm người cung kính quỳ lạy, Yên Môn Vệ xếp hàng hai bên, khom gối cúi đầu: Cung nghênh Thánh thượng, Đồng Phi nương nương hồi cung.
Nhiều vị đại nhân đang đợi trong phòng Thượng Thư Phòng, Hoàng thượng đi trước. Long xa lắc lư, cung nữ đi theo bên ngoài xe, nàng nói: Nương nương thật có phúc, lần này hồi cung được đón tiếp theo quy cách của Hoàng hậu. Đèn cung đình theo cơn mưa phùn soi đến cửa cung, cung nữ đỡ ta xuống ngựa, ngẩng đầu nhìn tấm biển khắc chữ “Điện Ngô Đồng”. Mùi thơm quyến rũ như câu hồn phách, cung nữ thì thầm bên tai: Nương nương rời cung mấy năm, Thánh thượng ra lệnh phải xông hương tẩm cung của nương nương mỗi ngày, không được phép thiếu ngày nào cho đến khi nương nương hồi cung.
Ta bước vào cửa cung, giữa sân có một cây ngô đồng cao lớn, trên ngọn cây quấn đầy lá đỏ, nhìn kỹ mới thấy là hoa giả. Tương Tư dắt ta vào điện, ta thấy trên bàn có một con diều giấy màu đỏ, đó là con diều mà ta xé rách trước khi rời cung, giờ đây nó được sửa chữa hoàn hảo nằm trên bàn, Tương Tư nói, Hoàng thượng đã mất nhiều đêm để sửa lại con diều này.
Sau khi nghỉ ngơi một chút, thái giám trong cung Thái hậu đến nói, Thái hậu mời Đồng Phi nương nương.
Cuối đông, tuyết trắng phủ đầy cành mai đỏ, ta thích nhìn, liền hái vài cành. Từ xa, vài cung phi đang vây quanh lò sưởi ngắm tuyết. Họ thấy ta, từ đình đi tới hành lễ, ta cũng đáp lễ. Có những lời đáng lẽ phải tan biến trong gió, nhưng tai ta lại nghe rõ lời thì thầm: Không phải Đồng Phi đã chết rồi sao?
Đến Nguyên Thọ Cung, thái giám dẫn đường, chính điện treo bức tranh tiên cưỡi hạc, mùi trầm hương ngào ngạt. Ta đứng trước bình phong, thái giám đỡ Thái hậu từ nội điện bước ra, nhiều năm không gặp, bà đã già, tóc bạc phơ, bước đi chậm chạp. Thái hậu phẩy tay cho lui mọi người, ngồi xuống chính tháp nói: Hắn nói không sai, ngươi quả thực thông tuệ. Ta định nói vài lời khiêm tốn, Thái hậu lại nói: Chỉ là trong cung không thoải mái như dân gian, vô số cặp mắt dõi theo ngươi, giờ ngươi đã trở lại, chuyện triều chính giao cho hắn lo liệu. Ta nhận lời, nghĩ thầm nữ nhân trong cung có thể làm gì, không bằng những nguy hiểm bên ngoài. Trước khi rời đi, Thái hậu để lại một câu: Ngươi không cần hòa mình với hậu cung, giữ vững phẩm giá, mới áp chế được họ, Đồng Quý phi.
Ngày mồng ba tháng hai năm đầu tiên hồi cung, theo lệnh của Thái hậu, ta được phong làm Đồng Quý phi. Ta không hiểu nhiều về lễ nghi của Quý phi, theo lời đại thái giám là: Hậu cung chỉ có người là lớn nhất.
Đại giám đi đến Lục cung tuyên chỉ, chưa đến nửa ngày, cung của ta đã đông người. Phó chưởng cung Thụy Châu bên cạnh ta, ta lắng nghe nàng nói: Nương nương, người ngồi bên phải là Thục phi, nhi nữ Trương gia. Người bên trái là Tương phi, nhi nữ Lưu gia, đều nhập cung hai năm trước. Ta nhìn quanh không thấy người quen, ta hỏi: Lệ phi đâu? Thụy Châu lật danh sách, nhẹ nhàng bâng quơ nói: Lệ phi nương nương phát điên một năm trước, hiện đang ở lãnh cung. Ta nhìn người qua lại trong sảnh, không tự chủ nhớ lại, năm đó Ngọc Quý phi cũng ngồi ở Kim Toạ, nàng kiêu ngạo biết bao nhưng giờ đây hoa lạc điêu tàn còn ta trở thành Quý phi.
Kế tiếp là các Quý nhân, Thục nhân, ta nghe mà đau đầu, Tương Tư bưng đến chén tổ yến ngân tuyết, ta uống một ngụm. Chợt ta nghe thấy bên ngoài có tiếng xôn xao, bên ngoài cửa sổ là một loạt bóng người vây quanh một vị chủ nhân. Thế trận này nhìn như muốn diễn cho ta xem bản thân được sủng ái như nào.
24.
Chưa thấy người mà ngoài rèm đã vang lên tiếng nói: Các vị tỷ tỷ tới sớm vậy. Thụy Châu cười nhạt: Đây là Ngưng Tố Mỹ nhân. Ta đỡ trán nhìn nàng, nàng lắc lư thân mình hành lễ, sau đó đi tới trước mặt Cát Quý tần, õng ẹo nói: Cát nương nương đi trước mà không báo cho tần thiếp, khiến tần thiếp thất lễ trước Quý phi nương nương. Cát Quý tần không vui, đứng dậy: Muội muội ngồi đây.
Một Mỹ nhân nhỏ bé, nhưng lại ngang nhiên ngồi vào vị trí tòng nhị phẩm. Các cung phi dưới điện đứng dậy hạ phúc lễ, Thục phi là người khéo ăn nói, nói những lời nịnh hót, mọi người đều hưởng ứng. Thụy Châu phân phát đáp lễ xuống dưới, đến lượt Ngưng Tố Mỹ nhân, Thụy Châu cầm đáp lễ của tòng nhị phẩm ngần ngừ, ta nhìn từ trên cao thấy thú vị, chắc Thụy Châu không biết có nên trao lễ hay không, Tương phi muốn nói lại thôi, mọi người nhìn ta, ta lại uống một ngụm yến sào, lễ nghĩa này, chỉ khi đánh vào mặt mới biết đau.
Tiểu tỳ của Ngưng Tố Mỹ Nhân nói một cách ngạo mạn: Ngươi có ý gì? Chẳng lẽ Quý phi nương nương tiếc phần đáp lễ này.
Đông Hải từ lâu đã có truyền thuyết về nước mắt giao nhân, phần đáp lễ này của ta chính là giao bạch châu quý giá nhất của Đông Hải, ba năm mới có một lần, ta còn chưa kịp dùng, mà phải tiêu pha cho người khác, thật sự đau lòng. Ta chỉ nói một câu: Giao bạch quý giá, người đứng đầu một cung mới xứng đáng có được.
Đêm khuya đèn nến tắt, ta sắp xếp tỉ mỉ lại lời nói của cung nhân, Hoài Cẩn Quý Phi bệnh nặng, Lệ phi điên cuồng, Hoàng quý phi dời về Phiên Dương hành cung, chỉ còn Ngưng Tố Mỹ Nhân được sủng ái.
Không sao, để nàng ta tiếp tục kiêu ngạo một chút, vì cuối cùng nàng ta cũng bị giải quyết.
Cuối tháng hai năm đầu tiên hồi cung, lễ nghi của Quý phi kết thúc, chiếu dụ rằng: Tuân theo ý chỉ của Hoàng Thái Hậu, Đồng Phi Bạch thị tính tình nhu thuận, có công cầu phúc cho quốc gia, vì bệnh nặng mà cư trú nơi ngoại thế nhiều năm, nay phong làm Quý phi.
Tháng ba năm đầu tiên hồi cung, ta đến Phiên Dương hành cung thăm Hoàng quý phi, nàng luôn không để ý đến ta, suốt ngày ngẩn ngơ nhìn bức tranh Cửu Thiên Thần Nữ. Có tin đồn Hoàng quý phi thích nữ sắc, không biết thật giả thế nào, trước khi đi nàng tặng ta một ly trà xuân, ta còn muốn hỏi thêm điều khác, nàng chỉ cười cho qua chuyện.
Giữa tháng ba năm đầu tiên trở về cung, việc nắm giữ Phượng Ấn đối với ta như cầm khoai lang nóng, khi còn nhỏ thấy cô mẫu gả vào thế gia, để xứng đáng với danh hiệu “Đại phu nhân”, cô mẫu còn trẻ đã sớm bạc đầu. Khi đó ta nghĩ rằng mình nhất định không vào cửa thế gia, tình nguyện sống một đời bình thường, chứ không chịu nổi khổ nơi thế trạch*. Không ngờ ta lại đi ngược ý muốn, trở thành Quý phi của Văn Chu, người trên vạn người.
*Thế gia: Nhà quyền quý, dòng dõi: thế gia vọng tộc
*Trạch: Nhà, chỗ ở: a^m-trạch, gia-trạch, đệ-trạch, thổ-trạch.
Tháng tư năm đầu tiên trở về cung, rõ ràng là thời tiết rất tốt, nhưng ta lại mệt mỏi vô cùng, ra khỏi cửa điện thấy Thụy Châu ngồi dưới đất ăn quả, ta tiến lên gõ nhẹ vào đầu nàng, Tương Tư bưng bồn đến, cười nói: Thụy Châu cô nương rất thích ăn quả, hôm nay đã là quả thứ ba rồi. Thụy Châu ăn rất nhanh, không lâu sau chỉ còn lại hạt, nàng cười tươi tắn chôn hạt dưới gốc cây, miệng lẩm bẩm rằng sang năm sẽ ăn quả mới. Ta thấy nàng như vậy đáng yêu vô cùng, Tương Tư chạm vào vạt áo ta, thấp giọng nói: “Thư từ Lạc Dương đến.” Trong thư ghi: Vụ án Nam Công phủ do tàn dư của Trường Tôn gia gây ra, trong vụ án Bắc Sơn Tự có một người thuộc Trường Tô gia, hai vụ án liên kết với nhau.
Giữa tháng tư năm đầu tiên trở về cung, ta sắp xếp các bản chép tay trong thư phòng , Thánh thượng thích nhất bản chép tay của Vương thị, tìm kiếm rất lâu mới có được vài bản. Đại thái giám truyền lời, Thánh thượng mời nương nương vào Thượng Thư Phòng, Hoàng thượng và đại nhân đang ở nhã thất.
Ta còn đang nghĩ đại nhân nào, Hoàng thượng thấy ta đến, ngài ra vẻ bí ẩn chỉ về phía đại nhân, Ngài nói: Đây là Lạc Dương Quận Vương. Ta tiến lên nhìn, người đó quay lại cười và chắp tay thi lễ, ta ngỡ ngàng, người đó rõ ràng là Cư Nguyên Quân. Nhưng vừa rồi người cúi chào lại nói: “Thần là Phó Các, gặp qua Quý phi nương nương.”
Gửi phản hồi