Dưới ánh nhìn chăm chú của muôn người, Ứng Tích Triều nói ra chân tướng của “án Tiên Hoàng”.
Song, nội tình của vụ việc lại liên quan đến tai tiếng trong vương thất. Chỉ cần xử lý sơ suất một bước, e rằng có thể làm rung chuyển xã tắc giang sơn, vì thế các thế lực khắp nơi đều bắt đầu âm thầm so kè, đấu trí.
Giữa cục diện giằng co ấy, lại có một nhóm quan lại vốn chẳng mấy ai để ý đứng ra…
1
Ta họ Đỗ, tên Nặc, tự Chấp Trung, hiện giữ chức Ngự sử đài đại phu. Công việc thường ngày là giám sát, đàn hặc, can gián luận sự, nhằm giữ thế chế ước trong triều.
Nói cho cùng, ta không cần như lão Tào ngày ngày khổ sở điều tra phá án; nhưng phần nhiều thời gian vẫn phải xử lý những việc vụn vặt rối ren, lông gà vỏ tỏi, khắp nơi bừa bộn.
Mấy hôm trước, hiếm hoi lắm ta mới rảnh rang đôi chút để cùng mấy người bạn học cũ tụ họp.
Mọi người ngồi lại, lần lượt kể những chuyện phiền lòng trong cuộc sống và công việc: Có người than rằng con ở nhà đã sáu tuổi mà vẫn chưa tính nổi một cộng một bằng mấy; Có kẻ bị cấp trên giao thêm việc, liên tiếp mấy tháng chưa từng được nghỉ; Lại có người gần đây thân thể mỏi mệt, tóc rụng từng mảng, uống mấy ngày liền thuốc Đông y mà vẫn chưa thấy khá hơn…
Ôi, người đến tuổi trung niên, quả thật chuyện gì cũng hóa thành vô vọng.
Ta thực không muốn thấy bầu không khí ủ ê như vậy, bèn khẽ gõ gõ vào chén trà, cất lời khích lệ: “Dù thế nào đi nữa, hôm nay chúng ta vẫn còn có thể ngồi chung nơi này, nhàn đàm thưởng trà, ấy đã là cơ duyên, cũng là phúc phận. Quan trọng nhất vẫn là mạng còn cứng. Nào nào, ta xin uống trước một chén kính các vị.”
Mọi người đều cười mà hưởng ứng. Nhắc lại những năm tháng sôi nổi thuở trước, ai nấy đều không khỏi cảm khái.
\Chúng ta đều là người Việt Châu, thuở nhỏ từng cùng theo học một tư thục, thụ nghiệp tại Đức Linh tiên sinh, cùng nhau tìm tòi học vấn. Về sau lại nhờ cơ duyên mà được Đỉnh Tân tiên sinh khai sáng, từ đó mỗi người mới có được cơ hội gặp gỡ và con đường như hôm nay.
Câu chuyện rồi chuyển sang phía ta. Khi biết ta sắp theo bệ hạ lên Lăng Tiêu Sơn làm lễ phong thiện, họ liền nhờ ta mang về ít đặc sản.
Đặc biệt là vị có đứa con sáu tuổi vẫn chưa biết một cộng một bằng mấy kia, nói rằng bánh thanh đoàn bán dưới chân Lăng Tiêu Sơn hấp thu linh khí trời đất, ăn vào ắt sẽ khai mở trí tuệ.
Nhưng bọn họ dù thế nào cũng không thể ngờ rằng chuyến phong thiện tại Lăng Tiêu Sơn ấy, cuối cùng lại biến thành một cơn phong ba long trời lở đất.
Chiêu Nhi, kẻ ba năm trước vốn đã bị chém đầu, nay lại chết mà sống lại, còn công khai đối mặt với bệ hạ trước thiên hạ, rồi tung ra một tiếng sét kinh thiên động địa.
Chiêu Nhi chẳng những phủ nhận tội danh đầu độc Tiên Hoàng, mà còn chỉ đích danh rằng kẻ hại chết Tiên Hoàng Tề Hàm Chi thực ra là người khác.
Trong chốc lát, toàn trường im phăng phắc, đến cả tiếng thở cũng không nghe thấy.
Mọi người nín thở, chăm chú chờ đợi cơn biến động long trời lở đất sắp ập đến.
Ta biết, trong số họ không ít người đã sớm đoán ra đáp án trong lòng. Lúc này tuy vẫn giữ vẻ mặt bình thản, nhưng ta đã nhìn thấu niềm hưng phấn đang cố nén lại nơi đáy mắt họ.
Nữ đế lên tiếng hỏi: “Vậy ngươi nói xem, rốt cuộc là ai đã giết hắn?”
Chiêu Nhi không kiêu không sợ, đáp: “Việc này can hệ trọng đại. Chiêu Nhi khẩn cầu tam ty hội thẩm, để làm sáng tỏ thị phi.”
Giọng Nữ đế Vi Chiêu Y trầm xuống, tựa như ẩn giấu đao kiếm: “Ngươi vốn là kẻ mang tội. Đòi tam ty hội thẩm là muốn lật lại án cũ cho mình, rồi chỉ ra hung thủ khác sao?”
Chiêu Nhi từ trong ngực lấy ra một phong thư, nâng cao quá trán.
Nàng nói: “Đây là thư viết tay của Tiên Hoàng, mọi chân tướng đều nằm trong đó. Chiêu Nhi xin tam ty nghiệm minh chữ viết thật giả, trả cho thiên hạ một lời giải thích.”
Tiên Hoàng lại còn để lại một phong thư ư?
Trong thư ấy rốt cuộc viết những gì?
Có phải chỉ rõ hung thủ hay không?
Vậy vì sao thủ thư ấy lại rơi vào tay Chiêu Nhi?
Trong lòng ta nghi hoặc không yên. Nhưng ta biết, dù mục đích thực sự của Chiêu Nhi là gì, thì đến lúc này nàng đã thành công.
Nàng đã thu hút toàn bộ sự chú ý của mọi người vào phong thư kia, khiến người ta chẳng buồn truy cứu rằng nàng có thật đã giết Tiên Hoàng hay không, và vì sao kẻ đáng lẽ đã chết lại còn sống.
Mọi người bắt đầu chờ đợi nội dung trong thư, đồng thời tưởng tượng bước tiếp theo của nó: Hoặc là chiếc chìa khóa mở chiếc hộp bí mật; Hoặc là đòn bẩy có thể làm rung chuyển triều đình.
Tam ty hội thẩm đồng nghĩa với việc nhiều thế lực cùng tham dự cân nhắc. Khi đó, vụ án này không còn là chuyện nhà có thể đóng cửa mà bàn, mà bất luận thế nào cũng phải bày ra trước thiên hạ, giữa muôn người chứng kiến.
Càng nhiều người chú ý, Nữ đế càng khó hành động tùy tiện.
Mà Chiêu Nhi từng bước bày cục, chuẩn bị chu toàn đến thế… chẳng lẽ cái chết của Tiên Hoàng thật sự có liên quan đến Nữ đế?
Hay là Chiêu Nhi chỉ có thể dựa vào cách này để tự bảo toàn, lấy tiếng nói của thiên hạ vạn dân mà chống lại uy quyền sấm sét của Nữ đế?
Ta khẽ ngẩng đầu nhìn về phía Nữ đế.
Sắc mặt bà nửa sáng nửa tối, khó mà đoán được rốt cuộc thái độ đối với phong thư kia là thế nào.
Bà im lặng, dường như đang cân nhắc.
Chiêu Nhi cũng không nói thêm lời nào.
Hai người cứ thế đấu lực trong im lặng.
Rốt cuộc, Nữ đế Vi Chiêu Y cũng cất tiếng, bà cao giọng hỏi: “Ngự sử đài, Đại Lý tự, Hình bộ ở đâu?”
Ta cùng lão Tằng và Hình bộ thượng thư Thôi Thuyên bước lên một bước, cúi mình chờ chỉ.
Nữ đế nghiêm mặt nói: “Trong ngoài triều đình vì Tiên Hoàng băng hà mà lòng người hoang mang, lời đồn sôi sục, tuyệt chẳng phải phúc của xã tắc. Nay trẫm chiếu cáo thiên hạ, chuẩn cho tam ty hội thẩm, triệt để tra xét nguyên nhân cái chết của Tiên Hoàng!”
Ánh mắt uy nghi của bà lướt qua ba người chúng ta, lại nhìn xuống vạn dân dưới chân, rồi nói:
“Các ngươi phải xử án công minh, nếu có kẻ nào vì việc riêng mà gian trá, trẫm tất nghiêm trị không tha!”
“Tuân chỉ!”
Ba người chúng ta đồng thanh lĩnh mệnh.
Hình bộ thượng thư Thôi Thuyên có tuổi tác lớn nhất, lúc này tự nhiên coi mình là người đứng đầu trong ba người chúng ta. Ông thay mặt chúng ta bước lên một bước, đối diện văn võ bá quan cùng dân chúng mà lập quân lệnh: “Xin chư vị tạm an tâm. Dưới trời xanh ban ngày, ắt có thể soi tỏ chân tướng, khiến nước trong đáy hiện!”
Lời nói của Thôi Thuyên hào sảng mạnh mẽ, vang dội như sấm, quả nhiên khiến dân chúng thêm phần tin tưởng ủng hộ.
Ông vuốt râu một cái, quay đầu liền quát hỏi Chiêu Nhi: “Chiêu Nhi! Nay Hình bộ, Ngự sử đài, Đại Lý tự đều ở đây, ngươi chớ còn giấu giếm. Mau dâng thủ thư lên, đem chân tướng công bố trước thiên hạ!”
Chiêu Nhi ngoan ngoãn dâng thư. Thôi Thuyên bước lên trước chúng ta nhận lấy, nhưng không lập tức trình lên Nữ đế.
Ông ta nghiêm nghị nói: “Bệ hạ, để bảo đảm công chính, xin cho ba người chúng thần mở thư trước, nghiệm xem thật giả.”
Giữa bao ánh mắt đang dõi theo, dĩ nhiên Nữ đế không thể bác bỏ yêu cầu hợp tình hợp lý ấy, bèn gật đầu chấp thuận.
Thôi Thuyên gần như không kìm nổi nôn nóng, lập tức mở thư ra.
Nhưng vừa lướt qua hai dòng, sắc máu trên mặt ông ta tức khắc rút sạch, mặt mày trắng bệch.
Ta và lão Tằng nhìn nhau một cái, cùng tiến lên xem.
Sau khi đọc nội dung bức thư, chúng ta cũng kinh hãi thất sắc.
Giữa sân bỗng rơi vào một khoảng tĩnh lặng quái dị.
Tất cả mọi người đều nhìn chằm chằm vào ba người chúng ta, chờ đợi ba người chúng ta.
Chỉ có Nữ đế, vào lúc này lên tiếng trước, giọng trầm xuống: “Thôi thượng thư, hãy nói cho thiên hạ biết, ai đã đầu độc Tiên Hoàng?”
Hai tay Thôi Thuyên, thậm chí cả thân người ông, run lên dữ dội.
Ông ta hé miệng, bộ râu cũng run rẩy vô ích theo, hồi lâu không thốt nổi một lời.
Ngay lúc ấy, Chiêu Nhi lại cao giọng đáp: “Kẻ đầu độc Tiên Hoàng—”
Thôi Thuyên lúc này mới nhận ra ý đồ của Chiêu Nhi, nhưng đã quá muộn, cũng không kịp ngăn nàng nói ra nốt nửa câu sau, từng chữ từng chữ rõ ràng rành rọt:
“…..chính là Tiên Hoàng tự làm.”
Lời ấy vừa dứt, thiên hạ chấn động.
Ta nghĩ… e rằng không còn kịp mua bánh thanh đoàn nữa rồi.
2
“Trẫm thân mang đức bạc, may mắn kế thừa đại thống, song bản tính nhút nhát, mềm yếu do dự. Dẫu có chí trị quốc, lại không có tài trị chính, cuối cùng phụ lòng lê dân thiên hạ .”
“Trẫm đặc biệt yêu thích trà Long Tỉnh trước tiết Minh. Hương vị thanh khiết, tựa như tính tình của trẫm, bề ngoài ôn nhuận, thực chất nhạt nhòa, khó gánh trọng trách trị quốc. Nay ngoài thì ngoại địch vây bủa, trong thì họa loạn liên miên, trẫm ngày đêm ưu tư, trằn trọc khó ngủ, tự biết không phải bậc minh chủ, thực khó xoay chuyển cơn sóng dữ.”
Cứ ngồi không hưởng lộc mà để giang sơn nhuốm bụi, khiến lê dân chịu khổ, không bằng tự tuyệt để tạ tội cùng thiên hạ. Chỉ mong sau khi trẫm chết, tân quân sẽ mang lòng thương dân, gắng sức trị quốc; quần thần phát huy tài kinh bang tế thế, phụ tá minh quân, khiến triều ta lại hiện cảnh thịnh trị. Trẫm ra đi đã quyết, không liên can đến bất kỳ ai, tuyệt đối không được liên lụy người khác.”
“Trẫm đi đây, chớ thương nhớ. Tề Hàm Chi thân bút.”
Ta khép lại bức thư đã bụi phủ nhiều năm, bẩm với Nữ đế: “Khởi bẩm bệ hạ, nét chữ trong thủ thư quả thực đúng là bút tích của Tiên Hoàng.”
Trong đại điện lúc này chỉ còn Nữ đế, Chiêu Nhi, cùng ba tên ‘thợ vá nồi’ như chúng ta.
Sau lễ phong thiện ở Lăng Tiêu Sơn, chúng ta lập tức ban sư hồi triều. Bề ngoài thống nhất nói rằng phải kiểm chứng thật giả của thủ thư, nhưng vẫn không thể ngăn được tai tiếng Tiên Hoàng tự vẫn, như cơn lốc cuồng bạo, quét ngang khắp triều dã.
Nếu thời gian có thể quay lại ngày cơn phong ba ở Lăng Tiêu Sơn, người hối hận nhất hẳn là Thôi đại nhân.
Ắt ông ta sẽ tát mạnh vào mặt mình hai cái, tự hỏi sao lại trở thành chiếc thang cho kẻ khác mượn leo tường, để Chiêu Nhi nói ra chuyện này giữa chốn đông người, không còn chút đường cứu vãn.
Nhưng đời người không có chữ “nếu như”.
Thôi đại nhân lúc này chỉ có thể tìm cách khác để cứu vãn sai lầm của mình.
Gân xanh nổi trên trán, ông ta quát lớn như chuông đồng: “Không thể nào! Tiên Hoàng là huyết mạch Thái Tổ, chính thống do trời ban, từ nhỏ đã được liệt tổ liệt tông che chở. Dẫu gặp sóng gió ngập trời, cũng phải tuốt kiếm phá cục, sao có thể tự cam đọa lạc, làm ra hành vi của kẻ thất phu như vậy?”
Ông ta chỉ tay vào Chiêu Nhi đang quỳ bên cạnh, quát lớn: “Trước đây ngươi theo hầu Tiên Hoàng, ngày đêm không rời, ắt đã bắt chước bút tích của người, giả tạo bức thư tay này, để tự gỡ tội cho mình!”
Chiêu Nhi cười một tiếng: “Cho dù bức thư này thật do ta ngụy tạo để thoát tội, thì ba năm trước ta đã đem ra rồi, hà tất phải lên pháp trường đi một vòng nơi đoạn đầu đài?”
Thôi Thuyên nghẹn lời trong chốc lát, đôi mắt bỗng đảo một vòng, tìm ra hướng công kích mới: “Đúng vậy! Ngươi còn chưa khai rõ vì sao ba năm trước ngươi không chết! Là ai cứu ngươi? Sau lưng ẩn giấu âm mưu gì? Bức thư này hẳn là do kẻ đứng sau sai khiến ngươi giả tạo, nhằm bôi nhọ thanh danh của Tiên Hoàng!”
Chiêu Nhi cười nhạt: “Thôi đại nhân, ta vẫn câu cũ ấy. Nếu bức thủ thư này là một âm mưu đã được mưu tính kỹ càng, thì ba năm trước ta đã có thể dùng nó khuấy đảo phong vân, cớ gì phải chờ tới ba năm sau?”
Thôi Thuyên lập tức truy hỏi: “Vì sao? Ngươi rốt cuộc có âm mưu gì? Có phải chịu người sai khiến hay không, còn không mau khai ra!”
Không ngờ người ném ra câu hỏi như Chiêu Nhi lại chỉ khẽ cười một tiếng, dứt khoát nhắm mắt lại, không nói thêm nửa lời, dáng vẻ dầu muối không lọt.
Thôi Thuyên không ngờ mình lại bị một tiểu nha đầu nắm thóp như vậy, nhất thời bó tay không biết làm sao. Sau một hồi trợn mắt thổi râu, ông lén liếc nhìn ta, ngầm ra hiệu đã đến lượt ta phụ họa.
Ta đưa tay sờ sờ mũi.
Trước khi hội thẩm hôm nay diễn ra, Thôi Thuyên từng lén tìm ta nói chuyện.
Chiêu Nhi liên quan quá lớn, lại có ít nhiều dây dưa với Tằng Tri Hứa, bởi thế ta tự nhiên trở thành đồng minh mà Thôi Thuyên muốn tranh thủ.
Thôi Thuyên thổi nhẹ chén trà nóng trong tay, nói đầy ẩn ý: “Tằng Tri Hứa là kẻ dầu muối không lọt, Đỗ đại nhân chớ nên cùng hắn cấu kết một giuộc.”
Ta cười bồi: “Lời Thôi đại nhân nói thật phải…”
Thôi Thuyên rung rung chòm râu đã bạc, hạ thấp giọng hỏi: “Đỗ đại nhân, ngươi đã nghĩ ra vụ án này nên xử trí thế nào chưa?”
Ta cung kính đáp: “Vẫn chưa có đầu mối, còn mong Thôi đại nhân chỉ giáo.”
Sắc mặt Thôi Thuyên trầm trọng: “Tiên Hoàng được tổ tông phù hộ, phúc trạch sâu dày, sao có thể làm chuyện tự tuyệt thân mình, gây tổn hại quốc gia lê dân? Tất là con độc phụ Chiêu Nhi kia nói bừa nói bãi….Toàn là lời hoang đường!”
Ta nói: “Nhưng Chiêu Nhi có thư tay của Tiên Hoàng. Chúng ta đều đã xem qua, bút tích quả thật không sai. Trong thư cũng đã nói rõ mọi việc, lại còn dặn chúng ta không được liên lụy Chiêu Nhi.”
Thôi Thuyên đập bàn một cái: “Thủ thư ấy ắt là Chiêu Nhi ngụy tạo! Nàng ta muốn thay mình và kẻ chủ mưu phía sau thoát tội!”
Ta vội rót thêm trà nóng cho ông.
Ông ta uống một ngụm để trấn tĩnh, ta lại hỏi: “Theo ý Thôi đại nhân, kẻ chủ mưu phía sau là ai?”
Thôi Thuyên không trực tiếp đáp câu hỏi của ta, trái lại thở dài một hơi, nói đầy thâm ý: “Nữ đế cầm giữ triều cương đã nhiều năm, tông thất vương thất đều lần lượt thất thế. Nếu Tiên Hoàng dưới suối vàng có linh, ắt hẳn ôm hận nơi cửu tuyền. Chúng ta thân là trung thần, lại không thể tận nghĩa với Tiên Hoàng, thật đáng hổ thẹn.”
Nghe đến đây, ta đã hiểu.
Tiên Hoàng chết ra sao không quan trọng.
Bức thư là thật hay giả cũng không quan trọng.
Điều quan trọng là người đang ngồi trên long ỷ hiện nay, rốt cuộc là nam hay nữ, họ Vi hay họ Tề.
Thôi Thuyên vỗ nhẹ tay ta, giọng đầy ý vị: “Đỗ đại nhân là bậc trạng nguyên, mang năng lực kinh thiên vĩ địa, lại từng được hoàng ân sâu nặng. Lẽ ra nên phù chính thống, chấn hưng uy thế hoàng thất, không thể để cương thường triều ta bị tổn hại.”
Ta kính cẩn hỏi: “Còn mong Thôi đại nhân chỉ điểm, cục diện trước mắt nên phá giải thế nào?”
Thôi Thuyên nghiêm giọng: “Quân vương là mệnh trời ban, cũng là gốc rễ của lòng dân.”
Ông ta dừng lại một chút rồi hạ giọng: “Tiên Hoàng tuyệt đối không thể chết vì tự tuyệt. Hành vi nghịch thiên như vậy, ắt sẽ dao động lòng người.”
Lúc ấy ta mới thật sự hiểu rõ.
Nếu muốn giúp Tề gia đoạt lại giang sơn, thì Tề gia không thể có một người thừa kế không hoàn mỹ.
Tề Hàm Chi không phải bậc quân vương vong quốc , nhưng cái chết tự vẫn của ngài khó lòng tô vẽ thành câu chuyện ca ngợi tiết nghĩa, trái lại chỉ khiến người ta mơ hồ cảm nhận được sự bất lực.
Mà không ai tin tưởng một hoàng đế nhu nhược.
Dẫu rằng… sự nhu nhược của một con người vốn không phải là tội lỗi.
Trước mắt, ta đành phải đứng ra, phá vỡ thế giằng co giữa Chiêu Nhi và Thôi Thuyên.
Ta ôn tồn khuyên nhủ: “Chiêu Nhi, vụ án này liên quan trọng đại. Để trả lại chân tướng cho Tiên Hoàng, mong ngươi kể rõ lại mọi việc hôm ấy.”
Chiêu Nhi nhìn ta, rồi nhìn Vi Chiêu Y, cuối cùng khẽ gật đầu.
3
Chiêu Nhi bưng bầu rượu vừa hâm ấm, bước nhanh trên con đường cung dẫn tới tẩm điện của Tề Hàm Chi.
Những ngày gần đây, tình trạng của hoàng đế lại càng tệ hơn.
Không biết bắt đầu từ trận bệnh nào, cơn ho thỉnh thoảng ban đầu dần biến thành ho không dứt; việc giật mình tỉnh giấc trong đêm cũng biến thành đêm nào cũng trằn trọc không ngủ.
Bệnh của y lúc nặng lúc nhẹ, nhưng chưa từng thực sự khỏi hẳn. Từ sau khi Mộ Dung Trung rời đi, thân thể của vị hoàng đế trẻ không còn ý gắng gượng nữa, để mặc bản thân ngày ngày quấn quýt trên giường bệnh.
Thế nhưng Tề Hàm Chi vẫn kiên trì thượng triều, vẫn gắng xử lý quốc sự.
Chỉ là, số lần y đưa ra quyết đoán trên triều ngày càng ít; tốc độ phê duyệt tấu chương cũng ngày càng chậm. Có một lần, thậm chí y còn đánh đổ giá nến, suýt nữa gây ra hỏa hoạn.
Chiêu Nhi thấy được, trong chốn vô hình có một bàn tay đang siết chặt cổ Tề Hàm Chi, từng chút một tước đi hơi thở cuối cùng của y.
Hai hôm trước thời tiết oi bức nặng nề, ngột ngạt đến mức khiến người ta khó thở. Con chim bị nhốt trong lồng cũng bứt rứt không yên, vỗ cánh nhảy qua nhảy lại, líu ríu kêu inh ỏi khiến lòng người càng thêm phiền muộn.
Mãi đến hôm qua mới có một trận mưa đổ xuống, xua tan cái ẩm nặng như nước như núi, rốt cuộc cũng khiến người ta dễ thở hơn đôi chút.
Chiêu Nhi bước tới trước cửa tẩm điện.
Trước cửa không có thị vệ canh gác, cửa cũng không đóng; cảnh trong điện thu vào tầm mắt không sót thứ gì.
Tề Hàm Chi đứng bên cửa sổ.
Trong tay y đang xách lồng chim.
Y mở cửa lồng, con chim liền vỗ cánh bay thẳng lên trời. Nó lượn vài vòng giữa không trung, hồi lâu vẫn không nỡ rời đi.
Tề Hàm Chi ho lên, rất lâu sau mới khó nhọc tìm lại được giọng nói: “Đi đi… sau này trẫm không thể chăm sóc ngươi nữa.”
Con chim như hiểu lời y, vỗ cánh mấy cái rồi bay thẳng về phía chân trời xa.
Tề Hàm Chi ngẩng đầu nhìn theo, cho đến khi bầu trời xanh trong như gột rửa, không còn dung nổi bóng một cánh chim.
Y lại ho dữ dội, cả người còng xuống, chỉ có thể lấy tay bịt chặt miệng, hình như không muốn làm kinh động người khác.
Chiêu Nhi đứng ngoài cửa, mãi vẫn không dám bước vào.
Ngưỡng cửa cao trước mặt nàng như ngăn cách hai cõi nhân gian và u minh.
Tề Hàm Chi ho một hồi lâu mới dần dịu lại. Y quay đầu, bắt gặp ánh mắt phức tạp của Chiêu Nhi, rồi cuối cùng nhìn xuống bầu rượu trong tay nàng.
Trên gương mặt tái nhợt không còn chút huyết sắc của y, rốt cuộc hiện lên một nụ cười.
“Ngươi đến rồi?”
Chiêu Nhi chột dạ cúi đầu, khẽ gật.
Không hiểu vì sao, tay nàng cũng hơi run.
Nàng khẽ hỏi: “Bệ hạ có biết, con chim trong lồng ấy từ nhỏ đã được nuôi nhốt, quen ăn gạo vàng thóc ngọc, chưa từng thấy hiểm ác ngoài kia. Người thả nó đi, nó chỉ có thể chết đói, hoặc bị đồng loại lẫn dị loại giết chết.”
Tề Hàm Chi nhẹ giọng nói: “Vạn vật trong thiên hạ, cuối cùng đều phải chết. Nó chỉ là từ khi sinh ra đã mang mệnh chim trong lồng, chưa từng biết nếu sống giữa trời đất thì sẽ ra sao. Nay nó còn có cơ hội, thì nên đi xem thử.”
“Nếu nơi cuối cùng của nó thật sự là chiếc lồng này… thì nó sẽ không bay đi được, bất luận thế nào cũng sẽ quay lại.”
Y lại cười: “Chiêu Nhi, nếu nó thật sự bay trở về, còn phải phiền ngươi chăm sóc nó đến lúc chết già. Những năm qua, nó làm chim trong lồng rất tốt, bổn phận cần làm đều đã làm cả rồi.”
Chiêu Nhi cắn chặt môi dưới.
Tề Hàm Chi khoan dung nói: “Đó là rượu dâng cho trẫm sao? Đem lại đây đi.”
Chiêu Nhi ngẩng đầu, nhưng không nhúc nhích.
Nàng không muốn chỉ nhẹ bước một cái, liền vượt qua ranh giới giữa nhân gian và u minh.
Chiêu Nhi lùi lại một bước: “Bệ hạ, rượu nguội rồi. Nô tỳ đi hâm lại cho người.”
Dĩ nhiên, Chiêu Nhi không phải thật sự đi hâm rượu.
Trong rượu có độc.
Mà việc nàng phải làm hôm nay chính là đầu độc hoàng đế.
Chỉ cần nàng đưa bầu rượu này tới trước mặt hoàng đế, mọi chuyện sẽ kết thúc.
Thế nhưng… đến khoảnh khắc cuối cùng, nàng vẫn không đành lòng.
Có lẽ là con chim hoàng oanh vừa được thả bay kia, vào giây phút sau cùng đã đánh thức Chiêu Nhi.
Một người đã định sẵn phải chết, hà tất phải thúc đẩy cái chết của y đến sớm hơn?
Chiêu Nhi đứng dưới hành lang, nhìn bầu rượu trong tay hồi lâu.
Rốt cuộc nàng vẫn nâng tay lên, đổ hết rượu độc trong bầu xuống đất, tưới lên những khóm hoa cỏ trồng bên đường.
Sau đó, nàng đem bầu rượu mới dâng đến trước mặt Tề Hàm Chi.
Nàng đã đổi rượu, giọng nói cũng vì thế mà nhẹ nhõm hơn đôi phần: “Bệ hạ, rượu này nô tỳ vừa hâm lại. Người cứ yên tâm dùng. Rượu mới còn ấm, uống vào sẽ không hại gan hại dạ dày.”
Lời nói của Chiêu Nhi ẩn ý sâu xa, nàng tin rằng Tề Hàm Chi có thể hiểu được.
Quả nhiên, Tề Hàm Chi gật đầu với nàng, khẽ mỉm cười: “Vất vả cho ngươi rồi, Chiêu Nhi.”
Chiêu Nhi lúc này mới thật sự yên lòng.
Nàng rót rượu cho y.
Nhưng Tề Hàm Chi lại đè tay nàng lại, nói: “Chiêu Nhi, trẫm muốn luyện chữ.”
Chiêu Nhi không hiểu vì sao y bỗng nổi hứng như vậy, nhưng vẫn mài mực cho y.
Tề Hàm Chi hỏi: “Chiêu Nhi, trẫm nhớ… ngươi họ Ứng phải không?”
Chiêu Nhi có chút hoảng hốt, không hiểu vì sao y lại hỏi đến chuyện này, chỉ đành gật đầu.
Tề Hàm Chi lại hỏi: “Vậy… ngươi còn nhớ người thân của mình không? Vì sao họ lại đặt cho ngươi cái tên Chiêu Nhi?”
Chiêu Nhi hơi lúng túng, chậm rãi đáp: “Từ khi sinh ra nô tỳ đã chưa từng gặp cha mẹ. Chỉ vì trên tấm tã quấn người có thêu một chữ ‘Ứng’, nên mới đoán đó là họ của mình. Sư phụ nuôi nô tỳ khôn lớn, nhưng chưa từng đặt tên cho nô tỳ. Trẻ con trong thôn thấy nô tỳ gọi là đến, xua là đi, bèn cứ ‘Chiêu Nhi, Chiêu Nhi’ mà gọi. Lâu dần… liền thành tên.”
Trong mắt Tề Hàm Chi dâng lên vẻ thương xót, thứ ánh mắt y xưa nay vẫn dùng để nhìn thế gian.
Y cầm bút chấm mực, suy nghĩ một lát rồi viết lên giấy hai chữ: Tích Triều
“Nếu ngươi không ngại…” Tề Hàm Chi khẽ ho hai tiếng, cố gượng nở một nụ cười, nói: “Có thể dùng hai chữ này làm tên.”
Động tác mài mực của Chiêu Nhi đột ngột dừng lại. Nàng có chút ngơ ngác.
Tên ư? Từ trước tới nay nàng chưa từng thấy tên gọi có gì quan trọng.
“Thế sự vô thường, nên tiếc lấy hôm nay.”
Tề Hàm Chi đưa tờ giấy có viết chữ cho nàng, mỉm cười nói: “Từ nay về sau, mong ngươi không còn bị quá khứ trói buộc, hãy sống trọn vẹn với hiện tại.”
Chiêu Nhi nâng tờ giấy mỏng nhẹ trong tay, lại chỉ cảm thấy nặng tựa muôn cân.
Tích Triều… Tích Triều…
Tiếc lấy hôm nay… nên tiếc hôm nay…
Ứng Tích Triều.
Chiêu Nhi ngồi trên bậc thềm dưới mái hiên, ngẩng đầu nhìn bầu trời, lòng khoan khoái chưa từng có.
Đây là lần đầu tiên nàng hiểu ra rằng, một cái tên cũng có thể là sợi dây ràng buộc giữa con người và thế gian.
Dường như sau khi cái tên này mang theo ý nghĩa ấy, nàng phải biết quý trọng hiện tại; nếu không, chẳng khác nào phụ lòng mong mỏi của người đã đặt tên cho mình.
Chiêu Nhi đứng chờ ngoài cửa.
Tề Hàm Chi nói muốn luyện chữ, bảo nàng một canh giờ sau hãy vào.
Nàng hết lần này đến lần khác lẩm nhẩm tên mình, vừa đợi canh giờ trôi qua, vừa chờ con kim ti điểu kia vì không chịu nổi khổ lạnh ngoài trời mà bay trở về.
Nhưng Chiêu Nhi không đợi được con chim.
Một canh giờ sau, khi nàng đẩy cửa tẩm điện bước vào lần nữa, thứ nàng nhìn thấy là thi thể của Tề Hàm Chi đã lạnh ngắt.
Tề Hàm Chi thất khiếu chảy máu, tử trạng có thể nói là rợn người.
Chiêu Nhi phịch một cái ngồi bệt xuống đất.
Chỉ nhìn một cái nàng đã nhận ra đó là dấu hiệu trúng độc.
Nhưng nàng không thể nào tin nổi, bầu rượu độc ấy rõ ràng đã bị nàng đổi đi rồi!
Rốt cuộc ai đã đầu độc Tề Hàm Chi?!
Chiêu Nhi tay chân cuống cuồng bò tới, như phát điên kiểm tra mọi thứ trong điện.
Rượu vẫn là bầu rượu nàng đã mang tới, nhưng trong rượu không hiểu vì sao lại hiện lên một vệt đỏ kỳ dị, tựa như hoa quỳnh.
Trong rượu có độc Quỳnh Hoa!
Chiêu Nhi kinh hãi.
Ai đã lại hạ độc vào trong rượu?
Chẳng lẽ có người phát hiện nàng lén đổi rượu độc, vẫn quyết tâm đẩy Tề Hàm Chi vào chỗ chết?
Không thể nào.
Nàng luôn đứng ngoài cửa, tuyệt đối không thể có ai vượt qua nàng mà vào tẩm điện…
Ngay lúc ấy, Chiêu Nhi phát hiện ra tờ thưtay bị Tề Hàm Chi đè dưới lòng bàn tay.
Trong thư, từng câu từng chữ đều ghi rõ quyết ý tự tận của y.
Chỉ một câu “cùng người vô can”, cho đến lúc chết Tề Hàm Chi vẫn nghĩ cho Chiêu Nhi, không muốn nàng bị liên lụy.
Dẫu rằng… y rõ ràng biết Chiêu Nhi mang rượu tới vốn là để giết mình.
Chiêu Nhi, không, Ứng Tích Triều nói đến đây, đau đớn nhắm mắt lại.
Nàng khẽ nói: “Hôm ấy, ta liều mạng hồi tưởng… rốt cuộc là từ khi nào y đã nảy sinh ý định tự tận. Là vì bệnh tật giày vò, hay sớm đã lực bất tòng tâm? Nhưng bất luận y chết vì nguyên do gì, đều là ta trông coi không chu đáo. Nếu ta sớm phát hiện điều bất thường… có lẽ y đã không chết.”
Ta không khỏi mỉa mai: “Vậy nên năm xưa ngươi không chịu đưa ra bức thủ thư, lại còn một mực nhận rằng mình đầu độc tiên hoàng… là vì hối hận?”
Ứng Tích Triều tự giễu cười: “Biết đâu… là vì y phát hiện ta muốn giết y, phát hiện mình bị người vẫn luôn tin tưởng phản bội, nên mới lạnh lòng. Xét tình xét lý, y đều chết vì bầu rượu độc ta mang tới. Ta sao lại không tính là hung thủ? Đền mạng cho y… cũng là tội đáng phải chịu.”
Ta lại quay sang hỏi Tằng Tri Hứa: “Cho dù Chiêu Nhi tự nhận mình là hung thủ, ngươi cũng sẽ không dễ dàng tin lời khai ấy. Năm đó… vì sao ngươi không chịu kết án?”
Tằng Tri Hứa nói: “Chiêu Nhi khai rằng vì tình mà đầu độc tiên hoàng. Nhưng ta lại phát hiện lượng rượu còn lại trong bầu không đúng. Theo dung lượng còn lại mà suy đoán, tiên hoàng đã uống hai chén rượu. Nhưng độc Quỳnh Hoa là loại thấy máu liền đoạt mạng, căn bản không thể cho người ta cơ hội uống đến chén thứ hai. Vì vậy ta suy đoán, rất có thể chén thứ nhất không có độc, còn chén thứ hai mới là rượu đoạt mạng. Sự việc đã có điểm khả nghi, thì không thể tùy tiện kết án.”
Lão Tằng nhìn sang Ứng Tích Triều, lại nói: “Chỉ tiếc rằng, ta đã dùng đủ mọi cách, vẫn không thể khiến nàng mở miệng.”
Thôi Thuyên liền nắm lấy đầu mối câu chuyện, hàm ý sâu xa mà hỏi: “Phải vậy! Thiên hạ đều biết Đại Lý Tự khanh Tằng Tri Hứa trước nay công chính nghiêm minh, vậy mà án này cuối cùng vẫn vội vàng khép lại. Chẳng hay Tằng đại nhân năm ấy có phải chịu áp lực gì chăng?”
Thôi Thuyên càng nói càng hăng, lại quay sang chất vấn Ứng Tích Triều: “Chiêu Nhi, nếu đúng như lời ngươi nói, ngươi nguyện lấy mạng đền mạng, vậy vì sao còn có thể sống đến hôm nay? Rốt cuộc là ai đã cứu ngươi? Chén rượu độc kia nếu quả thật do chính ngươi cam tâm dâng lên, cớ sao vừa thấy tiên hoàng thả con chim nhỏ liền đổi ý quay đầu? Hay là có kẻ mượn tay ngươi đưa rượu độc, đến phút chót ngươi bỗng tỉnh ngộ, trái lệnh không làm?”
Mày lão Tằng cau chặt, hiển nhiên bất mãn trước sự bức bách từng bước của Thôi Thuyên đối với Ứng Tích Triều.
Hắn vừa định mở lời giải vây cho nàng, thì Ứng Tích Triều đã bình thản cất tiếng: “Thôi đại nhân từng bước ép hỏi, chẳng qua vì trong lòng sớm đã có đáp án muốn nghe. Đại nhân mong câu trả lời của ta… chính là bệ hạ.”
Lời ấy tựa sấm sét nổ vang giữa điện, khiến cả đại điện chấn động.
Lúc này ta mới chợt nhận ra, nãy giờ chúng ta thao thao bàn cãi hồi lâu, tất cả đều diễn ra ngay dưới mí mắt nữ đế, mà người đã lặng im hồi lâu không hề lên tiếng.
Sắc mặt Thôi Thuyên lập tức khó coi, tựa như miếng gan heo để qua mấy ngày.
Quả thực trong lòng lão đúng là nghĩ như vậy, nhưng ý nghĩ ấy một khi bị vạch trần ra thì lại thành chuyện khác hẳn, huống hồ còn bị nói toạc ngay trước mặt chính nữ đế.
Thôi Thuyên run run chòm râu, quát lớn: “Chiêu Nhi! Ngươi đừng hòng kéo lão phu cùng chìm! Tông môn ta ba đời tận trung với vương thất, một lòng son sắt! Lão phu…”
“Quả thực là bệ hạ sai người cứu ta.” Ứng Tích Triều nhẹ nhàng nói, cắt ngang lời Thôi Thuyên.
Thôi Thuyên sững người.
Ứng Tích Triều lại tiếp: “Cũng chính là bệ hạ sai ta đem rượu đến.”
Trong khoảnh khắc, khắp điện tĩnh lặng đến mức dường như trời đất vạn vật đều tan biến.
Ứng Tích Triều quỳ thẳng lưng, ngẩng đầu hiên ngang, ánh mắt bình thản, hoàn toàn không để tâm rằng lời vừa thốt ra đủ để dấy lên sóng gió kinh thiên động địa.
Còn nữ đế vẫn uy nghi trầm tĩnh, chỉ lặng lẽ nhìn Chiêu Nhi, trên mặt không gợn một tia dao động.
Nhưng trong lòng ta hiểu rõ.
Sắp tới đây, e rằng sẽ là một trận đối đầu cuối cùng, đủ sức lật trời đổi đất.
4
Năm Ứng Tích Triều lên bảy, sư môn bị diệt.
Cừu gia lần ra nơi ẩn cư nhiều năm của sư phụ. Để giữ lại cho nàng một mạng, sư phụ lấy thân mình làm mồi, khóa chặt đám sát thủ trong nhà. Ứng Tích Triều liều mạng lao tới, muốn xô tung cánh cửa đã bị sư phụ khóa từ bên trong, nhưng chỉ nghe thấy giọng người thầy yếu ớt như tơ.
“Đi.”
Đi ư? Đi đâu đây?
Ứng Tích Triều không có thân nhân, cũng chẳng có nhà. Dẫu giữ được cái mạng này, nàng với cõi đời cũng chỉ như một gốc cây lẻ loi, một ngọn cỏ cô độc mà thôi.
Nhưng sư phụ bảo nàng đi, vậy nàng phải đi. Từ nhỏ nàng học được chỉ một điều, chính là nghe lời sư phụ.
Lời của phụ thân.
Để tránh sự truy sát của cừu gia, Ứng Tích Triều tự đổi dung mạo. Ngoài ra nàng cũng không có mong muốn nhất định phải làm điều gì — không còn ai ra lệnh cho nàng nữa, trong lòng chỉ còn lại sự mịt mờ.
Ngày ngày nàng ngồi co ro nơi đầu phố, sống qua ngày nửa đói nửa no. So với những đứa ăn mày miệng lưỡi lanh lợi, biết dỗ dành bọn quan lại phú quý để đổi lấy chút thức ăn, sự trầm mặc của Ứng Tích Triều lại có vẻ nhạt nhẽo và tiêu cực, tựa như bất cứ lúc nào cũng có thể lặng lẽ biến mất khỏi thế gian này.
Cho đến một ngày, một con chó trắng nhỏ lông mượt bóng dừng lại trước mặt nàng.
Ứng Tích Triều ngơ ngác nhìn con chó. Con chó trắng thử tiến lại gần, nhưng hình như nó bị thứ khí tức u ám quanh nàng dọa sợ, lập tức bật lùi ra xa, rồi hướng về phía nàng mà sủa vang.
Tiếng chó sủa hung dữ chói tai khiến Ứng Tích Triều khẽ nhíu mày. Nàng chưa từng học cách giết chó hay đuổi chó, chỉ có thể làm theo phép tránh hiểm mà sư phụ từng dạy: đưa tay quệt qua mặt, trong chớp mắt đổi thành gương mặt hung ác nhất mà nàng từng thấy trong ký ức, ánh mắt sát khí nhìn chằm chặp con chó.
Con chó trắng hiển nhiên bị dọa khiếp. Sau vài tiếng sủa cố lấy lệ, nó co rúm lại một bên, không dám sủa nữa.
Rốt cuộc cũng yên tĩnh.
Ứng Tích Triều gối đầu lên đầu gối đang co lại. Lúc này lại nghe một giọng nữ từ không xa vang lên: “Tiểu cô nương, ngươi có thể bế con chó của ta đem lại cho ta không?”
Đó là lần đầu tiên Ứng Tích Triều gặp Vi Chiêu Y.
Nàng mặc áo bào lộng lẫy. Dẫu đang đứng giữa dòng người tấp nập, Vi Chiêu Y vẫn rực rỡ chói mắt, cứ như sinh ra đã là người phải đứng giữa ánh nhìn của thiên hạ.
Thấy nàng không đáp, Vi Chiêu Y cũng không vội. Nàng chỉ vào bên chân Ứng Tích Triều, dịu giọng nói: “Xin lỗi, Sóc Tuyết của ta không cố ý dọa ngươi đâu. Nó chỉ muốn lấy lại quả cầu của nó thôi.”
Ứng Tích Triều thuận theo ánh mắt nàng mà cúi đầu nhìn xuống. Bên chân quả thật có một quả cầu thêu tinh xảo, chẳng biết đã lăn tới từ lúc nào.
Vi Chiêu Y kiên nhẫn hỏi tiếp: “Bế con chó của ta đưa lại cho ta, được không?”
Đó là một mệnh lệnh vô cùng rõ ràng.
Trong thế giới của Ứng Tích Triều, mệnh lệnh chưa từng tồn tại chuyện “được hay không”.
Nàng đưa tay về phía con chó. Con chó bị động tác ấy dọa hoảng, bất ngờ ngoạm chặt lấy tay nàng không buông.
Ứng Tích Triều dường như chẳng cảm thấy đau. Nàng nhặt quả cầu, tay kia giữ con chó vẫn còn cắn tay mình, bước đến trước mặt Vi Chiêu Y, đưa cả chó lẫn cầu trả lại.
Ngay cả Vi Chiêu Y, người đã quen nhìn cảnh giết chóc tranh đoạt, thấy một màn này cũng không khỏi sững sờ, nhận lại chó và quả cầu từ tay Ứng Tích Triều.
Ứng Tích Triều buông bàn tay đầy máu xuống, không nói một lời, quay người đi về chỗ cũ lúc nãy nàng ngồi.
Vi Chiêu Y giữ vai nàng lại.
Ứng Tích Triều nhìn nàng với vẻ khó hiểu, không hiểu vì sao mình đã hoàn thành mệnh lệnh rồi mà Vi Chiêu Y vẫn không để nàng đi.
Vi Chiêu Y giao con chó cho thị nữ phía sau, rồi ngồi xổm xuống trước mặt Ứng Tích Triều, lấy khăn gấm băng bó vết thương trên tay nàng.
“Không đau sao?”
Ứng Tích Triều nhìn bàn tay đầy máu của mình, gật đầu.
“Vậy sao không kêu đau?”
Ứng Tích Triều lại lắc đầu.
Vi Chiêu Y dùng khăn gấm buộc trên tay nàng thành hình một con thỏ nhỏ xinh xắn. Ứng Tích Triều nhìn chăm chú bàn tay mình, lộ ra vẻ mới lạ.
Không có niềm vui của trẻ con bình thường, cũng chẳng có nỗi tủi thân của trẻ con thường thấy.
Nàng chỉ lặng lẽ nhìn, như đang nghiên cứu.
Vi Chiêu Y dường như hiểu được ý nghĩ ấy, mỉm cười hỏi: “Muốn học không?”
Ứng Tích Triều nghĩ một lát, rốt cuộc mở miệng. Giọng trẻ con còn non nớt, nhưng lại chẳng hề ngây thơ: “Học rồi… có ích gì?”
Vi Chiêu Y khựng lại một chốc, rồi mới bật cười: “Nhất định phải là thứ có ích… ngươi mới chịu học sao?”
Ứng Tích Triều gật đầu. “Chỉ những thứ có ích, học rồi mới có thể tranh danh, mới có thể giữ mạng.”
Vi Chiêu Y không nhịn được, đưa tay xoa đầu nàng. Ứng Tích Triều vội lùi lại một bước, vẻ mặt có phần lúng túng.
Nàng căng thẳng nói: “Người không phải sư phụ.”
Vi Chiêu Y hiểu ra, hỏi: “Chỉ có sư phụ của ngươi mới được sờ đầu ngươi sao?”
Ứng Tích Triều gật đầu.
Vi Chiêu Y mỉm cười: “Vậy ta làm sư phụ của ngươi, có được không?”
Ứng Tích Triều không gật cũng không lắc, chỉ nói: “Sư phụ đã chết rồi.”
Vi Chiêu Y không hề kinh ngạc, cũng không vì câu trả lời ấy mà lộ vẻ thất lễ hay áy náy.
Nàng nói: “Con người ai rồi cũng phải chết. Ngươi đã có thể có một sư phụ, thì cũng có thể có hai sư phụ.”
Ứng Tích Triều không còn bối rối nữa, chỉ mơ hồ nhìn người phụ nữ xa lạ trước mặt đang nở nụ cười rất đẹp, mặc cho bàn tay kia chẳng mấy trắng trẻo, lại hằn đầy dấu vết năm tháng, nhẹ nhàng đặt lên đỉnh đầu mình.
Ứng Tích Triều quyến luyến lực tay và hơi ấm trên đầu. Nàng đã rất lâu rồi không được ai xoa đầu như thế. Nàng nghĩ, mình là thích, là nhớ nhung.
Nhưng Ứng Tích Triều vẫn khẽ nói, rất kiên trì: “Ta chỉ có một sư phụ.”
Vi Chiêu Y cười cười, không ép nữa. “Ngươi tên là gì?”
Ứng Tích Triều nghĩ một lát. “Mọi người đều gọi ta là Chiêu Nhi.”
“Ngươi gọi là Chiêu Nhi, tên lại giống tên ta, xem ra chúng ta cũng có chút duyên.”
Vi Chiêu Y cúi người trước mặt nàng, đưa tay vuốt ve gương mặt nàng, ánh mắt sâu xa. Nàng ta cười nói: “Ta rất có bản lĩnh. Ta nghĩ… ngươi cũng rất có bản lĩnh.”
Lần này Ứng Tích Triều không tránh động tác của Vi Chiêu Y nữa. Có lẽ vì động tác của người ấy quá đỗi dịu dàng, khiến nàng cảm thấy một chút ấm áp đã lâu không gặp.
Vi Chiêu Y đứng thẳng người, dùng giọng không phải dò hỏi mà đầy quả quyết nói: “Đi thôi.”
Đi.
Lại là đi.
Lần này, Ứng Tích Triều rốt cuộc có cơ hội hỏi: “Đi đâu?”
Vi Chiêu Y nói như đã định sẵn: “Về nhà với ta.”
Vi Chiêu Y vẫn không trở thành sư phụ của Ứng Tích Triều, nhưng nàng ta lại đưa Ứng Tích Triều ra khỏi núi rừng cách biệt nhân gian, dẫn nàng thực sự bước vào chốn nhân gian khói lửa.
Nàng ta bắt đầu dạy Ứng Tích Triều từng chút một. Từ lễ nghi cử chỉ nhỏ nhặt, đến đạo lý xử thế lớn lao. Dưới tay nàng ta uốn nắn, Ứng Tích Triều ngày càng giống một cô gái bình thường, cũng ngày càng nghe lời hơn.
Có lẽ vì cú cắn lần đầu gặp mặt, Sóc Tuyết tỏ ra cực kỳ thù địch đối với Ứng Tích Triều vì từ khi đến đã chiếm mất không ít vị trí của nó.
Ứng Tích Triều sau khi học được đủ loại bản lĩnh, đã nắm rõ cách chế ngự một con chó nhỏ. Chỉ có điều chủ nhân của nó hoàn toàn không hề thiên vị nó.
Sóc Tuyết co rúm ở một góc, tủi thân nhìn Ứng Tích Triều đang nằm sấp trên đầu gối Vi Chiêu Y, chiếm mất chỗ vốn dĩ của mình.
Vi Chiêu Y xoá chải mái tóc đen dài của Ứng Tích Triều từng chút một.
Ứng Tích Triều nhìn mình trong gương, thấy bản thân thoáng hiện vài phần quyến rũ. Nàng đưa tay đổi sang một gương mặt khác hợp với kiểu tóc này hơn, ngẩng đầu cười với Vi Chiêu Y: “Nương nương, gương mặt này có xứng với kiểu tóc người chải cho ta không?”
Vi Chiêu Y véo nhẹ má nàng. Ứng Tích Triều say mê sự thân mật ấy, lại rúc vào lòng nàng ta.
“Chiêu Nhi, ta muốn ngươi đến bên cạnh một người.”
Ứng Tích Triều ngoan ngoãn đáp: “Vâng.”
Vi Chiêu Y cười. “Không hỏi ta là ai sao?”
Ứng Tích Triều ngẩng đầu, giọng trung thành: “Nương nương bảo Chiêu Nhi làm gì, Chiêu Nhi sẽ làm nấy.”
Vi Chiêu Y nhặt một lọn tóc của nàng, tự tay tết thành bím.
Nàng ta nói dịu dàng:
“Người đó tên là Tề Hàm Chi, là nhi tử của ta. Nó mang huyết thống tôn quý nhất thiên hạ, nhưng cũng có tấm lòng nhân hậu nhất thế gian.
“Thế nhưng lòng nhân ấy, lại định sẵn trái nghịch với huyết thống của nó, khiến số mệnh của nó thêm nhiều đau khổ dằn vặt.
“Ta muốn ngươi ở bên nó, trông chừng nó… cho đến khi nó chết.”
……………………………..
Đối diện lời chỉ trích của Ứng Tích Triều, trên mặt nữ đế Vi Chiêu Y không hề có thêm biểu cảm nào, thậm chí không một gợn sóng.
Nhưng khi chân tướng rốt cuộc bày ra trước mắt, lại như từng dãy núi chồng chất khiến người ta không dám nhìn thẳng.
Ngay cả Thôi Thuyên, kẻ ban nãy còn hận không thể cắn chết nữ đế, lúc này cũng há nửa miệng đứng sững, hoàn toàn mất đi khí thế hung hăng.
Nữ đế gần như thản nhiên mà nói: “Chiêu Nhi là do trẫm sắp đặt đến bên cạnh tiên hoàng. Rượu cũng là trẫm sai Chiêu Nhi mang đến cho tiên hoàng. Trên pháp trường giữ lại cho Chiêu Nhi một mạng… cũng là trẫm.”
Nữ đế thẳng thắn thừa nhận tất cả, rồi ung dung nhìn chúng tôi, chờ đợi phản ứng.
Thần thái của nàng giống như đang cúi nhìn lũ kiến và bụi trần dưới chân — nàng căn bản không quan tâm chúng tôi nghĩ gì.
Rốt cuộc thiên uy ở trên, ai dám làm gì, lại có thể làm gì?
Cuối cùng vẫn là Thôi Thuyên vì giữ thể diện mà lắp bắp mở miệng: “Bệ… bệ hạ… đây là ý gì… vì sao phải sắp đặt Chiêu Nhi…”
Ông ta lắp bắp nhiều lần vẫn không nói trọn câu, càng không dám hỏi đến chuyện rượu độc.
Nữ đế tốt bụng cắt ngang lời ông, chậm rãi nói: “Tiên hoàng yếu ớt từ nhỏ. Trẫm sắp xếp một người chăm sóc nhi tử mình, có gì không ổn?”
Nữ đế từ từ đứng dậy. Tay áo rộng khẽ quét qua tay vịn long ỷ.
Bà hờ hững nói:
“Các ngươi đều không nói. Là vì các ngươi không dám hỏi trẫm, có phải trẫm sớm đã nhòm ngó ngôi báu, có ý giết hoàng nhi hay không.”
“Cho dù là vậy… thì đã sao?”
“Xưa nay kẻ xưng đế, vì đoạt ngôi báu mà huynh đệ tương tàn, thậm chí sát phụ hại huynh, nhiều không kể xiết. Tần Nhị Thế giả chiếu ban chết trưởng huynh Phù Tô mới lên ngôi; Thái Tông giết huynh tại Huyền Vũ Môn rồi đăng cơ; còn có kẻ như thái tử Lưu Tống tự tay giết thân phụ, mưu toan tự lập.
“Thế nhân xưa nay lấy thành bại luận anh hùng. Lưu danh muôn đời hay mang tiếng vạn kiếp, đều dựa vào công tội và chính sự. Trẫm đã ngồi vững ngôi chí tôn, thì cũng chịu được lời phán xét muôn đời.”
Nói đến đây, bà nhìn Thôi Thuyên đang run rẩy không thôi, khẽ cười khinh miệt:
“Nếu trẫm là nam tử, làm ra chuyện như vậy, ngàn năm sau e còn được khen một câu thủ đoạn quyết đoán. Chứ đâu phải như nay, bị trói buộc bởi cái gọi là thiên đạo tổ chế.”
“Các ngươi nói gà mái gáy sáng là trái lễ pháp. Nhưng trong chín tầng cung khuyết này… tấc nào chẳng nhuốm máu?”
“Nam nhân tranh quyền gọi là hùng tài đại lược; nữ nhân tham chính liền thành rắn rết độc phụ. Nam nhân trị quốc sai lầm còn gọi là quyền nghi mưu kế; nữ nhân cầm quyền chỉ cần sơ suất liền bị nói là làm loạn quốc gia…”
Nữ đế đập mạnh đầu rồng trên long ỷ, quát lớn: “Thôi Thuyên! Ngươi nói xem, rốt cuộc là thiên hạ này không cho nữ tử nắm quyền, hay chính các ngươi, đám hủ nho ôm lấy cũ kỹ, cố chấp không chịu thay đổi, không cho?!”
Thôi Thuyên hoảng hốt quỳ sụp xuống. Ta và Tằng Tri Hứa cũng bị cơn thịnh nộ của nữ đế chấn động, vội vàng quỳ theo.
Thôi Thuyên run rẩy dập đầu, khản giọng kêu: “Bệ hạ… lão thần không dám… lão thần không dám…”
Nữ đế cười khẩy.
“Từ khi trẫm đăng cơ đến nay, mọi việc làm đều vì quốc kế dân sinh. Các ngươi lại nói trẫm trái thiên đạo tổ chế. Vậy trẫm hỏi các ngươi, thế nào là thiên đạo? Thế nào là tổ chế?
“Nếu thiên đạo là để bách tính lưu lạc khắp nơi, để tham quan hoành hành bá đạo, vậy trẫm nghịch thiên cũng được!
“Nếu tổ chế là để kẻ vô năng chiếm chỗ ăn lương, khiến trung lương nản lòng, vậy trẫm sửa chế cũng được!”
Không ai dám nói gì.
Bởi nữ đế có đủ tư cách để nói những lời ấy, cũng không ai có tư cách lay chuyển bà.
“Nhưng mà….”
Đúng lúc này, nữ đế chợt đổi giọng, từ từ nói:
“Trẫm đã hứa cho tam ty hội thẩm, các ngươi tự nhiên có quyền tra án. Án của tiên hoàng, cứ việc điều tra. Dù kết quả thế nào, trẫm cũng chịu được.”
“Trẫm đã là nghi phạm, vậy cũng có một lời cung khai.”
Ánh mắt nữ đế sắc như lửa, từng chữ từng chữ nói ra: “Hôm ấy, trong chén rượu bị Chiêu Nhi đổi đi… thực ra là trẫm đã hạ độc Xích Luyện.”
5
Hôm ấy điện thẩm, đại để đã suy diễn và khôi phục được toàn bộ quá trình sự việc.
Ngày xảy ra án, Nữ đế sai Chiêu Nhi mang rượu độc đến cho Tiên hoàng. Đến giây phút cuối, Chiêu Nhi lương tâm chợt tỉnh, liền tráo chén rượu độc ấy đi.
Nữ đế phủ nhận việc âm thầm giám sát Chiêu Nhi, bởi vậy không hề hay biết nàng đã đổi rượu, cũng không tiếp tục hạ độc lần nữa. Còn theo di thư của Tiên hoàng cùng suy đoán của lão Tằng, sau khi sai Chiêu Nhi lui ra, Tiên hoàng hẳn đã viết xong di thư, rồi tự tay rót một chén rượu, ung dung mà uống để tìm đến cái chết. Nào ngờ uống xong vẫn vô sự, lúc ấy Tiên hoàng mới nhận ra trong rượu không có độc. Thế nhưng y không hề mừng vì thoát khỏi một kiếp nạn, trái lại vẫn lựa chọn tiếp tục con đường tử vong của mình.
Tóm lại, Nữ đế có sát ý, nhưng không phải người thực sự ra tay. Chén rượu độc cũng đã bị Chiêu Nhi vốn muốn ngăn cản thảm kịch đổi đi. Cuối cùng, Tề Hàm Chi chết vì chén rượu mà chính y đã thả độc Quỳnh Hoa vào.
Cái chết của Tiên hoàng không thể nói là không liên quan đến Nữ đế, nhưng cũng tuyệt đối không thể gọi Nữ đế là hung thủ.
Sự việc đến đây, nếu đem tình trạng này công bố với thiên hạ, cũng chưa hẳn không thể.
Hiển nhiên nữ đế không sợ thiên hạ biết rằng mình từng có sát ý đối với chính nhi tử của mình.
Dẫu sao thiên hạ vốn đã nghĩ như thế, cho dù giờ phút này xác thực, cũng chỉ là chứng thực thêm cho những câu chuyện trà dư tửu hậu mà thôi.
Nhưng nếu chuyện Tiên hoàng tự tận bị xác nhận, thì lại hoàn toàn khác.
Thiên hạ thần dân đều tôn Thiên tử là người được thiên mệnh trao gửi. Tề Hàm Chi đại biểu cho huyết mạch chính thống của họ Tề, trong dân gian vẫn có uy vọng rất cao. Trong triều ngoài nội vẫn còn đông đảo thế lực muốn hoàn chính cho tông thất, chính những thế lực ấy hợp lại thành quốc lực hiện nay của Vi Chu.
Thử nghĩ, nếu truyền ra rằng Tề Hàm Chi lại tự kết liễu đời mình, thiên hạ thần dân sẽ nghĩ thế nào?
Một khi lời đồn nơi chợ búa nổi lên, lòng người tất hoang mang. Phiên vương và ngoại bang chỉ cần mượn cớ thiên mệnh suy tổn mà phát binh làm loạn, e rằng thời thái bình thịnh trị này sẽ lập tức hóa thành khói lửa bốn phương.
Ta mang theo rượu ngon, vào nhà lao giam giữ Ứng Tích Triều, mời lão Tằng và nàng dùng bữa, mong hai vị cao nhân chỉ điểm mê lộ.
“Lão Tằng, ngươi chỉ cho ta một con đường. Vụ án này ngươi định xử trí thế nào?”
Lão Tằng liếc ta một cái, giọng hờ hững: “Chép nguyên đáp án, coi như gian lận. Từ bao giờ ngươi lại trở nên không cầu tiến như vậy?”
Ta buồn rầu uống rượu, nói: “Lão Tằng, ngươi biết mà, ta không phải loại quan như ngươi.”
Ta nói tiếp: “Ngươi đối diện hung phạm, truy tìm chân hung, đạo làm quan của ngươi ở chữ đạo. Còn ta đối diện văn võ bá quan, phải xoay xở cân bằng, đạo làm quan của ta ở chữ quan. Trong quan trường, những kẻ lxuất thân bình thường như ta, đèn sách nhiều năm, như cát bị sóng lớn sàng lọc, đến một ngày thi đỗ mới nhặt được một viên gạch gõ cửa quan lộ, thật sự nhiều vô kể. Chúng ta để tâm công lý chân tướng, nhưng cũng để tâm được mất lợi hại, càng để tâm chiếc mũ ô sa trên đầu mình.”
Ta dừng lại, kết luận: “Mà loại quan như chúng ta, mới chính là nền móng của triều đình ngày nay.”
Lúc này Ứng Tích Triều mở miệng hỏi: “Các ngươi đoán xem, vì sao bệ hạ lại nói cho các ngươi biết rằng bà đã hạ độc trong rượu?”
Ta và Tằng Tri Hứa đều trầm mặc.
Ứng Tích Triều nói ra điều mà chúng ta không tiện nói. Nàng cười: “Bệ hạ tự nhận đã hạ độc, là cố ý đẩy hình tượng mình thành kẻ độc ác vì giết Tề Hàm Chi, mưu đoạt hoàng vị đến cực điểm. Bà căn bản không sợ thiên hạ biết mình từng có sát tâm. Những lời chửi rủa, công kích ấy so với tất cả những lời đồn đại, phê phán mà bà đã trải qua suốt con đường này, vốn chẳng đáng là gì.”
Ứng Tích Triều lại hỏi: “Các ngươi đoán tiếp xem, bệ hạ là phát hiện Tề Hàm Chi chết vì độc Quỳnh Hoa từ khi nào?”
Câu hỏi ấy khiến ta giật mình, đồng thời cũng chỉ ra mấu chốt.
Năm đó khi lão Tằng phụng mệnh điều tra, đã xác nhận độc là Quỳnh Hoa và tấu báo lên trên. Như vậy, Nữ đế vốn biết mình hạ là độc Xích Luyện, khi ấy ắt đã hiểu ra Tiên hoàng là tự tận mà chết.
Bao năm nay, Nữ đế gánh tiếng ác độc vì phu vì tử mà không thanh minh, bởi bà cũng biết một vị hoàng đế tự kết liễu đời mình sẽ gây nên chấn động thế nào đối với thiên hạ. Bởi vậy bà thà để cái chết của Tiên hoàng trở thành một câu đố cho thiên hạ suy đoán. Chỉ cần đáp án chưa bị vạch ra, câu đố ấy sẽ duy trì được thế cân bằng của các phương.
Nữ đế không sợ thế lực của Mộ Dung Khác từng bước ép sát, cũng chính vì bà biết chân tướng. Chân tướng Tiên hoàng tự tận chính là một thùng thuốc súng không thể phơi ra ánh sáng, đồng thời cũng là con bài để Nữ đế tùy thời lật ngược thế cờ.
Ngày ấy trên núi Lăng Tiêu, Nữ đế dám để Ứng Tích Triều đứng ra chỉ chứng, e cũng chính vì điều này.
Trong góc nhìn của Nữ đế, Ứng Tích Triều không biết mấu chốt hai loại độc khác nhau trước sau, đương nhiên sẽ cho rằng Tề Hàm Chi chết vì chén rượu độc mình mang tới.
Nữ đế tính kế dồn Ứng Tích Triều vào đường cùng. Để tự bảo toàn, nàng ắt sẽ nói ra sự thật rằng mình phụng mệnh bệ hạ mang rượu độc. Như vậy bí mật Tiên hoàng tự tận cũng sẽ bị chôn vùi vĩnh viễn. Mà sự thật Tiên hoàng chết vì độc Quỳnh Hoa lại có thể trở thành bằng chứng giúp Nữ đế tùy thời “lật án” cho mình.
Chỉ là Nữ đế không biết Ứng Tích Triều giữa chừng đã đổi rượu độc, cũng không biết vì muốn giữ lại một mạng cho nàng mà Tiên hoàng đã để lại bút tích tự bạch. Ứng Tích Triều lại sớm biết chân tướng tự tận.
Ba năm trước, nàng vốn có thể dùng bức thư ấy để giữ mạng, nhưng lại cam tâm chịu chết. Ba năm sau, bức thư mới được đưa ra ánh sáng, phá vỡ toàn bộ bố cục của Nữ đế.
Ứng Tích Triều khẽ nói: “Ngày đó bệ hạ không nên giữ lại một mạng của ta. Các ngươi nói xem, có phải không?”
Ta nhìn nàng một cái rồi nói:
“Thôi Thuyên gần đây lại tìm ta. Ý của ông ta là bỏ nguyên nhân cái chết, lấy ý nghĩa cái chết. Chuyện Tiên hoàng băng hà đã khó giấu, vậy thì phải xoay chuyển đôi chút trên bút mực. So với việc dây dưa chết thế nào, chi bằng viết đậm vì sao mà chết. Nếu thiên hạ đều biết Tiên hoàng vì thất bại trong đấu tranh chính trị mà tự tận, thì chỉ khiến hoàng quyền bị hoen ố, khiến bọn tiểu nhân trong triều sinh lòng khinh nhờn.”
“Nhưng nếu dựng nên hình tượng một vị quân chủ giữa rừng đao quyền mưu, vẫn lấy thân làm khiên, lấy cái chết chứng đạo… thì bất luận là lão thần trung quân hộ đạo, hay thế gia dựa vào uy nghi hoàng thất, đều sẽ hài lòng với kết cục ấy.”
Lão Tằng nói: “Xem ra bệ hạ cũng đã chọn con đường sau. Bà muốn giữ thể diện hoàng thất, ổn định vận nước. Bà không sợ người ngoài biết chuyện, bởi có đủ tự tin rằng bất luận cục diện nào cũng có thể xoay chuyển càn khôn.”
Sát phạt quyết đoán, hữu dũng hữu mưu, không vì hư danh mà trói tay trói chân, chỉ lấy thực tích chứng minh bản tâm.
Những việc Nữ đế làm, quả xứng bốn chữ loạn thế hùng chủ.
Nghĩ đến đây, ta không khỏi thở dài: “Không ngờ đến cuối cùng, lập trường của bệ hạ lại trùng với Thôi đại nhân. Vậy ngươi cho rằng, chúng ta nên theo hướng họ đã định sẵn, công bố rằng bệ hạ từng hạ độc, còn Tiên hoàng là bị ép đến chết sao?”
Lão Tằng uống cạn chén rượu, nói: “Chức trách của ta chỉ là phá án. Chỉ khi chứng cứ vững như bàn thạch, mọi tình tiết không còn bỏ sót, mới có thể coi là kết án. Còn việc công bố thế nào, cân nhắc ra sao, không nằm trong chức trách của ta.”
Ta rất tán đồng.
Ta hỏi Ứng Tích Triều: “Hôm ấy xảy ra đủ chuyện như vậy, ngươi còn bỏ sót… hay che giấu điều gì không?”
Ứng Tích Triều đáp bình tĩnh: “Không có.”
Thấy thái độ nàng kiên định như thế, ta cũng không tiện hỏi thêm, gật đầu nói: “Nếu đã vậy, chúng ta mỗi người làm tròn chức trách của mình đi.”
Theo đúng quy tắc, vụ án này nếu muốn khép lại, vẫn phải trải qua lần phúc tra cuối cùng.
Đã phúc tra thì khó tránh phải qua lại với Hình bộ, bởi toàn bộ hồ sơ cùng chứng vật đều do Hình bộ trông coi.
Thôi Thuyên đối với việc này tỏ ra không mấy tích cực. Trong mắt ông ta, vụ án đã có kết quả, quan hệ giữa ông ta và Nữ đế từ thế đối đầu căng thẳng nay đã biến thành một dạng liên minh ngầm không tuyên mà hiểu, chỉ muốn mau chóng kết thúc án này cho xong.
Vì thế, đối với việc phúc tra, Thôi Thuyên tỏ ra hết sức chểnh mảng. Ta và lão Tằng đứng chờ trước cổng Hình bộ gần nửa nén nhang, mãi mới thấy phó thủ của Thôi Thuyên là Nghiêm Giác thở hổn hển chạy tới.
Nghiêm Giác – phụ tá của Thôi Thuyên.
Xem ra Thôi Thuyên đã quyết tâm làm cho xong chuyện, nên tự tìm cớ không lộ diện, chỉ phái một phụ tá chuyên làm việc nặng việc bẩn đến đây đi cho đủ thủ tục.
Ta chỉ vào chiếc khăn vải trắng đang vắt trên cổ Nghiêm Giác, tỏ vẻ kinh ngạc: “Nghiêm huynh, kiểu trang phục mới này của huynh quả thật độc đáo.”
Nghiêm Giác cúi đầu nhìn theo, lập tức mặt mày mất sạch thể diện. Y vội giật phăng chiếc khăn xuống, bực bội nói: “Trang phục mới cái gì! Vừa rồi ở nhà dạy hài tử làm toán, tức đến vã cả mồ hôi. Vội ra ngoài nên quên mất khăn lau mồ hôi còn vắt trên cổ.”
Ta thở dài: “Hài tử huynh đến giờ vẫn chưa tính ra một cộng một bằng mấy sao?”
Nghiêm Giác liếc ta một cái: “Còn chẳng phải tại ngươi không mua được thanh đoàn ở Lăng Tiêu sơn hay sao.”
Ta chột dạ, lập tức chắp tay thành khẩn nhận lỗi: “Quấy rầy ngày nghỉ của Nghiêm huynh, lần sau nhất định bù lại.”
Nghiêm Giác trông như đã quá quen với việc bị gọi đi làm thêm, chỉ phẩy tay ra hiệu cho chúng ta theo y vào phòng chứng vật.
Trong phòng chứng vật, Nghiêm Giác chỉ lên chiếc rương gỗ đặt ở tầng cao nhất của giá, trên nắp dán kín phong điều: “Đó chính là toàn bộ chứng vật của án Tiên hoàng.”
Sau khi kiểm tra công văn chúng ta mang theo, Nghiêm Giác mới cho phép đem chiếc rương xuống. Trên nắp rương phủ một lớp bụi mỏng.
Chúng ta đang định mở rương, Nghiêm Giác bỗng lên tiếng: “Khoan!”
Y nhíu mày, đi vòng quanh chiếc rương quan sát một lượt, rồi đưa tay quệt lớp bụi trên nắp, chăm chú xem xét.
“Có chuyện gì sao?” ta hỏi.
Nghiêm Giác nheo mắt nhìn một hồi, lẩm bẩm: “Hôm nay lớp bụi này… hình như dày hơn thường ngày một chút.”
Ta liền giải thích với lão Tằng: “Nghiêm Giác mỗi nửa tháng đều kiểm tra toàn bộ chứng vật ở đây một lần. Mọi thứ trong phòng này, không gì qua được mắt hắn.”
Lão Tằng hỏi: “Nghiêm đại nhân, ngài cảm thấy có điều gì không ổn sao?”
Nghiêm Giác xoa xoa đầu ngón tay, trầm ngâm chốc lát rồi cười: “Không có gì, Tằng đại nhân cứ xem.”
Lão Tằng mở rương. Bên trong chia làm bốn ngăn, chứng vật được sắp xếp chỉnh tề.
Quan viên Hình bộ và Đại Lý tự theo thứ tự lấy từng món ra đối chiếu. Không bao lâu, chúng ta đã tìm thấy bình rượu từng được dùng để đựng hai loại độc dược trước sau hôm ấy.
Bình rượu được chế từ dương chi bạch ngọc thượng hạng, trải qua nhiều năm vẫn giữ chất ngọc mịn màng, ánh sáng dịu nhẹ. Sau khi kiểm tra lại, quan viên Đại Lý tự phát hiện ở một góc khuất trên nắp bình có một vết ố vàng nhạt.
Nắp ngọc được đưa đến trước mặt chúng ta.
Lão Tằng nói: “Theo lời Ứng Tích Triều, hôm đó thời gian gấp gáp, sau khi đổ rượu độc đi, nàng chỉ vội rửa phần trong bình, rất có thể đã bỏ sót nắp bình, khiến một ít độc Xích Luyện còn lưu lại. Trong xích luyện độc chứa lượng lớn đan diên, thứ này lâu ngày ngấm vào khe nứt của ngọc, sẽ khiến bạch ngọc nguyên bản dần ngả vàng.”
Ta gật đầu: “Năm ấy đã nghiệm ra độc Quỳnh Hoa trong bình, lại phù hợp với nguyên nhân cái chết của Tiên hoàng, Ứng Tích Triều cũng đã nhận tội. Tự nhiên sẽ không có ai đi kiểm tra chứng vật thêm lần nữa. Bởi vậy nếu bỏ sót xích luyện độc trên nắp ngọc, quả thực cũng không phải không thể.”
Như vậy, bình ngọc này có thể trở thành vật chứng, chứng thực lời của Nữ đế.
Ta quay đầu nhìn Nghiêm Giác, người từ đầu đến giờ vẫn im lặng, chỉ chăm chú nhìn chiếc bình ngọc trong tay chúng ta, tựa hồ đang suy nghĩ điều gì.
Ta hỏi: “Nghiêm huynh, huynh có cao kiến gì không?”
Nghiêm Giác chợt hoàn hồn, nở nụ cười hiền lành: “Không có, không có. Hạ quan chỉ là thấy mọi việc thuận lợi như vậy nên mừng thôi. Hai vị đại nhân đã xem xong chưa?”
Thấy chúng ta không nói gì, Nghiêm Giác gãi đầu, có phần ngượng ngùng cười:“Nếu đã xem xong… hôm nay chi bằng dừng tại đây được chứ? Hạ quan còn phải vội về nhà tiếp tục dạy hài tử học bài nữa.”
6
Ta cầm kết quả điều tra mới nhất, tìm đến Nhậm Lý, môn hạ tỉnh cấp sự trung, xin y phúc tra.
“Bác bỏ.” Nhậm Lý đọc xong chữ cuối cùng của công văn, lạnh lùng phán một câu.
“Vì sao chứ?” Ta than dài.
Vị cấp sự trung nổi tiếng thiết diện vô tư cũng ngẩng đầu nhìn ta một cái, nói: “Ngươi thân là ngự sử đài đại phu, chẳng lẽ không biết đạo lý công văn không đầy đủ thì phải bác bỏ, yêu cầu tra xét lại sao? Trong này của ngươi chỉ liệt kê vật chứng, mà khẩu cung nhân chứng ngày xảy ra án lại thiếu. Ta không thể thông qua.”
Nhậm Lý vẻ mặt nghiêm nghị, nói một là một, tuyệt không lay chuyển.
Thuở còn đi học, y cũng là người chăm chỉ và cẩn mật nhất trong bọn chúng ta. Đêm đêm thường chong đèn đọc sách, ôn tập củng cố. Dù cái giá phải trả là mỗi ngày tóc rụng càng nhiều, y vẫn chưa từng buông bỏ con đường học vấn.
Về sau, Nhậm Lý toại nguyện, được bổ làm môn hạ tỉnh cấp sự trung. Chức vị tuy không cao, nhưng trách nhiệm lại rất nặng.
Nhậm Lý nổi danh chỉ nhận lý lẽ cứng, cực kỳ khó nói chuyện. Không ít đồng liêu đặt cho y biệt hiệu “Cương Ngạc Lý công”, ngày ngày đem ra trêu chọc, y cũng coi như không nghe thấy.
Ta kiên nhẫn giải thích: “Nhậm đại nhân, vụ án này liên lụy cực rộng, ngài đâu phải không rõ. Ngài bảo ta phải làm thế nào? Chẳng lẽ thật sự đi thẩm vấn khẩu cung của bệ hạ? Bệ hạ kim khẩu ngọc ngôn, đã nhận chuyện từng hạ độc, hà tất phải sinh thêm rắc rối? Chân tướng đã gần như lộ rõ, chi bằng cứ theo đó mà kết án, ngươi tốt ta tốt mọi người đều tốt.”
Nhậm Lý dùng giọng điềm nhiên nhất đáp lại ta: “Ta chẳng có gì tốt, cũng không biết ngươi có thể tốt đến đâu. Còn việc mọi người có tốt hay không, chẳng liên quan đến ta.”
Ta đành đánh vào tình cảm: “Nhậm huynh, huynh không thể nể ta chút mặt mũi, cho ta tiện đường sao? Lần trước nghe nói huynh thân thể bất an, tóc rụng nghiêm trọng, ta còn đặc ý cầu thuốc cho huynh. Thuốc ấy là bí dược, khó kiếm lắm…”
“Đa tạ, không được.”
Ta nghẹn lời.
Đúng lúc ấy, Thôi Thuyên người chưa đến mà tiếng đã vang: “Đỗ đại nhân, Nhậm đại nhân, khiến lão phu tìm hai vị thật vất vả.”
Thôi Thuyên bước vội tới, còn chưa kịp thở đều đã nhiệt tình đứng ra dàn xếp: “Chúng ta nay cùng ngồi trên một con thuyền, hai vị đại nhân chớ nên tranh chấp.”
Nhậm Lý lạnh nhạt đáp: “Hạ quan không biết bơi, xưa nay không chèo thuyền.”
Sắc mặt Thôi Thuyên xanh rồi trắng, nhưng không lâu sau lại vuốt râu, nở nụ cười ngoài mềm trong sắc: “Nhậm đại nhân quả nhiên cương trực. Chẳng trách tháng trước Lại bộ dâng sớ đàn hặc ngươi vượt quyền làm quá chức trách. Nếu không phải lão phu đứng trước Thượng thư lệnh xoay xở giúp, e rằng chiếc ô sa trên đầu Nhậm đại nhân sớm đã bị tháo xuống.
Hôm nay làm sao còn có thể ở đây thiết diện vô tư, phân ranh giới rõ ràng như vậy?”
Nhậm Lý hơi nhíu mày, nhưng vẫn nói: “Phúc tra của môn hạ tỉnh chỉ luận luật pháp, không luận tình riêng.”
Thôi Thuyên xua tay liên hồi, cười nói: “Nhậm đại nhân nói vậy là chưa phải. Phúc tra có thể chỉ luận luật pháp, nhưng quan trường khó tránh nhân tình. Ngươi và ta đều làm quan trong triều, sau này ắt còn nhiều dịp qua lại. Lão phu với thượng quan của Nhậm đại nhân vốn là bạn tri kỷ nhiều năm. Sau này Nhậm đại nhân muốn thăng tiến, muốn đứng vững nơi triều đường, chỉ dựa vào lý lẽ cứng nhắc e rằng chưa đủ. Chỉ cần hôm nay ngươi mở miệng nới lỏng, lão phu tự sẽ thay ngươi đả thông quan hệ, bảo đảm trong nửa năm thăng quan ba phẩm.”
Nhậm Lý có phần tức giận, nhưng nghe những lời ấy cũng chỉ cảm thấy bất lực khó phản bác.
Y trầm ngâm một lúc, giọng đã hạ thấp vài phần: “Ta chỉ cần hồ sơ đầy đủ khẩu cung. Những chuyện khác, ta không quản.”
Thôi Thuyên vỗ tay cười lớn, quay sang ta nói: “Vậy là được rồi. Đỗ đại nhân, nếu chỉ cần có khẩu cung là đủ, vậy phiền ngươi đi tìm Chiêu nhi lấy thêm một bản khẩu cung, để Nhậm đại nhân làm cho đủ lệ thường.”
Ta chắp tay với Thôi Thuyên. Bảo sao ông ta luôn tự nhận mình là trụ cột giữa dòng, bản lĩnh này người khác quả thật khó mà học được.
Khẩu cung của Ứng Tích Triều không khó lấy. Nàng đã mở lời rồi, dường như cũng sẵn lòng đem từng chi tiết kể lại hết cho chúng ta.
Chúng ta đã làm rõ những chuyện xảy ra trên đường nàng mang rượu độc đến, nhưng yêu cầu nghiêm khắc của Nhậm Lý lại khiến chúng ta phát hiện một chỗ thiếu sót: Ứng Tích Triều nhận được mệnh lệnh ám sát Tiên hoàng như thế nào?
Ta hỏi nàng: “Ngươi phụng mệnh bệ hạ giám thị Tiên hoàng. Vậy vì sao bệ hạ bỗng nảy sát tâm, và ra lệnh cho ngươi bằng cách nào?”
Trong lời thuật lại của Ứng Tích Triều, rốt cuộc ta cũng ghép lại được tình cảnh năm ấy.
…….
Ngày hôm đó, khi Ứng Tích Triều bước vào tẩm điện của Vi Chiêu Y, trên bàn đã đặt sẵn một bình rượu.
Ánh mắt nàng bị chiếc bình ấy đâm vào một cái, nhưng vẫn bước đến trước mặt Vi Chiêu Y quỳ xuống hành lễ.
“Bái kiến Thái hậu.”
Vi Chiêu Y mỉm cười, vẫy tay gọi nàng.
Ứng Tích Triều liền ngoan ngoãn bước tới, ngồi xuống bên chân bà, gối đầu lên đầu gối bà.
Vi Chiêu Y như thường lệ, đưa tay chải vuốt mái tóc dài của nàng.
“Bây giờ ngươi hầu hạ bên cạnh hoàng thượng, đến cả lúc ai gia muốn nói chuyện riêng với ngươi cũng khó. Gần đây trời ẩm thấp nhiều mưa, ai gia biết ngươi vốn ghét nhất thứ thời tiết này.”
Ứng Tích Triều khẽ nói: “Bao than gỗ mà nương nương đặt trong phòng Chiêu nhi, Chiêu nhi đã thấy rồi. Để nương nương phải luôn bận lòng nhớ đến, là lỗi của Chiêu nhi.”
Vi Chiêu Y nói: “Ngươi thay ai gia trông nom hoàng nhi, ai gia có lỗi với ngươi.”
Bà dừng lại một lát rồi hỏi: “Gần đây thân thể hoàng thượng thế nào?”
Ứng Tích Triều thoáng ngập ngừng, cân nhắc rồi đáp: “Gần đây bệ hạ ho khò khè không dứt, thân thể mệt mỏi suy nhược, đã mấy ngày liền không ngủ được.”
Bàn tay đang chải tóc bỗng dừng lại. Ứng Tích Triều ngồi thẳng người lên. Vi Chiêu Y ở phía trên nàng dường như nhớ đến điều gì, khẽ nói: “Thuở nhỏ thân hình hoàng nhi cao lớn, là đứa con cường tráng nhất của tiên đế. Nay… đã gầy đi rất nhiều.”
Ứng Tích Triều không biết phải nói gì, hồi lâu mới ấp úng: “Bệ hạ rồi sẽ khá lên…”
Vi Chiêu Y lại nhẹ nhàng đẩy nàng ra, đứng dậy.
Ứng Tích Triều ngẩng đầu nhìn Vi Chiêu Y đang tắm trong ánh sáng. Bóng dáng ấy tựa như con ưng sau khi nghỉ ngơi, ẩn mình đã lâu, nay rốt cuộc lộ ra móng vuốt.
Vi Chiêu Y bình thản nói: “Thái y lén nói với ai gia rằng hoàng thượng đã gần đất xa trời, dầu cạn đèn tàn, e rằng không qua nổi Trung thu năm nay.”
Ứng Tích Triều vô thức lắc đầu, lẩm bẩm lặp lại: “Bệ hạ rồi sẽ khá lên.”
Vi Chiêu Y như không hề nghe thấy lời nàng, chỉ hỏi: “Chiêu nhi, năm ấy trẫm bảo ngươi trông chừng hoàng nhi, ngươi làm rất tốt. Nay… ngươi cũng nên trở lại bên cạnh trẫm rồi.”
Lời ấy như tiếng sét giữa trời, nổ ngay trên đỉnh đầu Ứng Tích Triều. Nàng há miệng, nhưng không thốt ra nổi một chữ.
Ánh sáng lay động trên gương mặt Vi Chiêu Y, chợt sáng chợt tắt, cuối cùng dần dần rút đi, khiến nửa khuôn mặt bà chìm vào bóng tối.
Giọng nói nặng nề mà lạnh lẽo của Vi Chiêu Y vang lên trên đỉnh đầu nàng, lạnh lùng xa cách như vọng từ cõi u minh: “Nếu đã là thiên ý như vậy, ai gia đương nhiên phải thuận theo thiên ý. Ai gia không thể làm gì thêm cho nó nữa… nhưng có thể giúp nó kết thúc mọi đau khổ.”
Dưới ánh nhìn của Vi Chiêu Y, Ứng Tích Triều nâng bình rượu kia rời đi.
Còn những lời của Vi Chiêu Y, sớm đã tan vào gió.
“Đi đi. Thay ta đem bình rượu ấy đến cho nhi tử ta… để tối nay nó ngủ một giấc thật ngon.
……..
Ta đứng dưới hành lang ngoài tẩm điện cũ của Tiên hoàng, mặc gió mát lướt qua mặt, mà trong lòng vẫn khó dằn được nỗi xao động.
Ta nhớ lại khi vừa nghe xong lời Ứng Tích Triều thuật lại, ta cố nhẫn nhịn, nhưng rốt cuộc vẫn không nhịn được mà hỏi nàng: “Ngươi thật sự tin lời bệ hạ nói sao? Tiên thái tử không qua nổi Trung thu năm ấy?”
Ứng Tích Triều nhìn ta, hỏi ngược lại: “Dẫu qua được Trung thu năm ấy… thì còn qua được mấy lần Trung thu nữa? Độc Quỳnh Hoa, tuyệt không phải mới có từ hôm đó.”
Dưới ánh mắt bình thản của nàng, ta đành chịu thua.
Ta chợt nhận ra, ta của hiện tại và nàng của năm xưa đều giống nhau. Chính sự không nỡ khiến chúng ta không dám quyết định sinh tử của người khác, cũng cố tình lờ đi sự thật khách quan.
Độc Quỳnh Hoa tuyệt không phải mới có hôm đó, mà đã chuẩn bị từ lâu.
Khi ấy, Tề Hàm Chi rất đau khổ. Điều duy nhất y có thể làm, chỉ là thả một con chim bay đi.
Ta lại nhớ đến nhiều năm trước, trong Thái Học, khi chúng ta từng cùng Đỉnh Tân tiên sinh nấu trà luận đạo.
Hoàng hôn phủ dần mái ngói xanh, ta hỏi tiên sinh: “Nếu lấy trứng chọi đá, đá chưa vỡ mà trứng đã nứt, cớ gì phải làm?”
Tiên sinh chỉ cây tùng khô trước sân. Cành nhánh tuy bị gió tuyết ép cong, nhưng vẫn quật cường chỉ thẳng lên trời, cao giọng đáp: “Năm xưa Đại Vũ trị thủy, chín năm chưa thành, thiên hạ đều cười ông si dại. Nhưng nếu không có ông đào núi khơi sông, thì đâu ra ruộng tốt ngàn dặm đời sau? Sức người tuy nhỏ, nhưng kiên trì bền bỉ, rốt cuộc cũng có thể đục thủng đá cứng.”
Chú thích:
- “Đại Vũ trị thủy” nói về Đại Vũ, người xưa mất chín năm đào núi, khơi dòng để trị nạn lũ, dù từng bị thiên hạ chê cười, nhưng cuối cùng lại mang đến ruộng đồng phì nhiêu cho hậu thế.
Nghiêm Giác khó hiểu nói: “Kiến hôi đòi lay cây lớn, chẳng qua chỉ thêm trò cười. Ngô Khởi biến pháp, thân chết chính tắt; Thương Ưởng tuy làm nước Tần mạnh, cuối cùng lại bị xe xé giữa chợ. Biết rõ không thể làm mà vẫn làm, chẳng phải là ngu sao?” - Ngô Khởi là danh tướng nước Sở, từng tiến hành cải cách quân sự nhưng vì đắc tội quý tộc mà bị giết, cải cách cũng theo đó mà dừng lại. Thương Ưởng là người đặt nền móng pháp trị cho nước Tần, giúp Tần trở nên cường thịnh, song bản thân lại chịu kết cục bị xe xé
Tiên sinh nhặt một chiếc lá thông, vạch những rãnh nhỏ trên đất: “Ngô Khởi tuy chết, quân chế của ông vẫn được các nước noi theo; Thương Ưởng tuy chết, Tần pháp lại đặt nền tảng cho cơ nghiệp ngàn thu. Có những sự kiên trì, lúc đương thời nhìn qua tưởng là vô ích, nhưng lại có thể dựng nên cây cầu cho người sau qua sông.”
Nhậm Lý cũng chỉ mạng nhện ở góc tường hỏi: “Tơ nhện ngày ngày bị gió thổi tan, con nhện vẫn tiếp tục giăng lưới. Theo tiên sinh, đó là chấp niệm, hay là ngu muội?”
Tiên sinh nhìn con nhện đang nhả tơ lại, trong mắt ánh lên tia sáng: “Có lẽ giữa trời đất vốn không có chuyện nhất định phải bại, chỉ có người sớm buông tay bỏ cuộc. Ngu Công dời núi, Trí Tẩu cười ông ngu dại. Nhưng khi Thái Hành, Vương Ốc cũng bị dời đi, ai còn dám nói kiên trì là sai?
- “Ngu Công” là hình tượng ông lão quyết tâm đào núi Thái Hành và Vương Ốc để mở đường, dù tuổi cao sức yếu, bị người đời – tiêu biểu là “Trí Tẩu” – chê cười là ngu dốt.
Sức người tuy hữu hạn, nhưng niềm tin có thể khiến những kiên trì nhỏ bé, cuối cùng hợp lại thành dòng lũ đổi trời thay đất.”
Ta vẫn còn nhớ dáng vẻ của Đỉnh Tân tiên sinh khi ấy: khí phách hừng hực, chí lớn đầy lòng.
Ngài ấy tràn đầy nhiệt huyết và lý tưởng. Sự hào sảng kiên định ấy đã khích lệ chúng ta, cũng gieo vào lòng chúng ta lý tưởng, khiến chúng ta đi đến ngày hôm nay.
“Đỗ huynh…”
Một giọng nói yếu như tơ vang lên sau lưng ta.
Ta quay đầu lại. Vừa thấy gương mặt đen sạm, quầng mắt thâm sì kia, ta giật bắn mình, chút bực bội trong lòng cũng theo đó tan biến.
Người đứng trước ta là Tư Nông tự thiếu khanh Minh Kính, một trong những đồng môn năm xưa của ta.
Trong tay Minh Kính cầm một quyển sổ lớn. Khi cầm bút lông, y thỉnh thoảng phải chống nó lên, đỡ đôi mí mắt đang rũ xuống, treo lơ lửng chút hơi tàn mà nhìn ta.
Ta thất thanh hỏi: “Minh huynh, huynh làm sao vậy?”
Minh Kính u oán nói: “Đỗ huynh quên rồi sao? Tại hạ đã tám tháng liền không được nghỉ.”
Minh Kính chính là kẻ xui xẻo từng than thở với ta trong buổi tụ họp trước đây, rằng cấp trên cứ thêm việc, khiến y liên tiếp mấy tháng không có ngày nghỉ.
Tư Nông tự phụ trách việc tích trữ lương thực, quản lý kho tàng, cấp phát lộc mễ cho quan viên trong kinh; bên dưới lại quản cả vườn ngự uyển hoàng gia, trồng trọt và chăm sóc cây cỏ hoa lá trong cung.
Công việc nhiều đến mức người thường khó lòng tưởng tượng.
Năm ấy chúng ta cùng nhập quan. Khi phân bổ chức vụ, Minh Kính còn khấn thần mấy ngày liền, chỉ mong được vào một nha môn cảnh sắc đẹp đẽ, lại tránh xa chuyện nhân tình qua lại.
Khi biết mình được bổ nhiệm vào Tư Nông Tự, y lập tức làm lễ tạ thần rất lớn, cảm tạ trời cao cho phép mình ngày ngày được chăm nom hoa cỏ.
Chỉ là, Minh Kính hẳn không ngờ rằng thần minh cũng có lúc “điều phối phân việc”. Y làm việc quá tốt, được cấp trên hết sức trọng dụng, từ chức Tự thừa một đường thăng đến Thiếu khanh. Nhưng cũng vì được tin cậy quá mức, công việc giao cho y ngày một nhiều. Không biết từ lúc nào, bận rộn đến nỗi ngay cả thời gian về nhà cũng không còn.
Minh Kính từng muốn xin nghỉ hưu mộc, Tư Nông Tự khanh vỗ vai y, chân thành khích lệ: “Tiểu Minh à, năng lực càng lớn, trách nhiệm càng nặng.”
Minh Kính nghe xong, quả thật cảm động đến tận tâm can.
Ta cũng vỗ vai y, nói: “Minh huynh, huynh thật không dễ dàng.”
Trên người Minh Kính phảng phất một thứ khí tức nhàn nhạt như đã chết lặng. Y mang quầng thâm dưới mắt, đầy cảm khái nói: “Đôi khi ta cũng tự hỏi mình, có đáng vì mấy lượng bạc vụn mà khiến bản thân mệt đến như con chó hay không. Nhưng mỗi khi nhìn thấy cả vườn hoa cỏ này, ta lại cảm thấy vẫn có thể nhẫn nhịn thêm chút nữa. Đỗ huynh, ta nghĩ đây chính là sức mạnh của lòng yêu thích.”
Trong lòng ta âm thầm trợn mắt. Rõ ràng đây là sức mạnh của việc bị tẩy não thì đúng hơn.
Nhưng ta không dám nói ra. Minh Kính vẫn tiếp tục cảm khái: “Đây chính là giá trị công việc của ta! Từ khi ta vào Tư Nông Tự, trong cung chưa từng chết một đóa hoa, một bụi cỏ nào! Chính ta đã khiến chúng có thể sống đến lúc thọ tận mà tàn…”
Ta bỗng rùng mình, đột ngột quay phắt nhìn Minh Kính.
Minh Kính đầy vẻ an ủi nói: “Đỗ huynh, huynh cũng bị ta làm cảm động rồi, phải không?”
Ta nghĩ ngợi một lát, rồi hỏi: “Minh huynh, năm xưa Đỉnh Tân tiên sinh từng nói: nhân lực tuy có hạn, nhưng sức mạnh của tín niệm có thể khiến những kiên trì nhỏ bé tụ lại thành dòng lũ đổi thay trời đất. Huynh nói xem, chúng ta hiện giờ… đã có thể trở thành dòng lũ ấy chưa?”
7
Gạch vàng trên điện được ánh sớm dát lên một lớp vàng mỏng, nhưng không sao sưởi ấm nổi bầu không khí lạnh lẽo trong đại điện.
Văn võ bá quan phân hàng đứng hai bên, thần sắc nghiêm nghị. Nữ đế Vi Chiêu Y ngồi ngay ngắn trên long ỷ, ánh mắt thâm trầm khó dò.
Mọi ánh nhìn trong điện đều dồn về ba người đang đứng dưới: ta, lão Tằng và Thôi Thuyên.
Thôi Thuyên cầm một xấp hồ sơ, bỗng bước lên một bước, giọng khàn vang dội khắp đại điện: “Bệ hạ! Vụ án tiên hoàng tự tận năm xưa, sau khi tam ty hội thẩm, chân tướng nay đã rõ ràng!”
Ông ta vội vàng giũ tung tập khẩu cung trong tay, giấy tờ sột soạt, nói: “Ứng Tích Triều khai rằng, bệ hạ từng sai nàng mang rượu pha độc Xích Luyện dâng cho tiên hoàng. Nay Đại Lý tự đã nghiệm ra trong mặt trong nắp ngọc hồ còn sót lại đan duyên. Đây chính là dấu vết do độc Xích Luyện thấm vào chất ngọc mà thành, là bằng chứng sắt đá rằng rượu có độc!”
Trong hàng bá quan vang lên một làn xao động câm lặng. Sự kinh hãi và hoảng loạn lan ra giữa đám đông, nhưng không ai dám bật thành lời.
Thôi Thuyên ưỡn thẳng lưng, giọng nói bỗng chuyển hướng, nghiêm nghị nói: “Lão thần cho rằng, tiên hoàng tuy không chết vì độc Xích Luyện, bút thư tuyệt mệnh cũng đã nói rõ không liên quan đến người khác, thoạt nhìn như tự vẫn. Nhưng—”
Ông ta kéo dài giọng, ánh mắt sắc như đao chém thẳng về phía ngự tọa.
“Tiên hoàng quả thực đã chết vì mưu tâm của bệ hạ!”
Thôi Thuyên đau xót nói: “Năm ấy tiên hoàng bệnh tật triền miên, lại ngày ngày lao tâm khổ tứ. Giữa bốn bề sát cơ như vậy, làm sao có thể giữ nổi tính mạng? Lâu dần tâm lực cạn kiệt, sao lại không nảy sinh ý niệm tự tuyệt? Bởi vậy, cho dù tiên hoàng trong cơn sai lầm chưa uống chén rượu độc kia, nhưng sát tâm của bệ hạ đã thành, cái chết của tiên hoàng, bệ hạ vẫn phải chịu trách nhiệm!”
Phe cánh của Thôi Thuyên lập tức phụ họa theo.
Thôi Thuyên quả thật vô cùng xảo quyệt, cố ý chĩa mũi nhọn về phía bệ hạ, nhưng lại không đưa ra yêu cầu cụ thể. Rõ ràng ông ta hiểu rất rõ, thủ đoạn của bệ hạ cứng rắn, tuyệt không thể trả quyền cho tông thất.
Vậy nên, ông ta vẫn phải tiếp tục đấu tranh vì tông thất. Một mặt dốc sức dựng lên hình tượng tiên hoàng vô tội mà bi tráng, mặt khác khơi dậy làn sóng công kích bằng lời và bút, khiến ngôi vị của bệ hạ không thể ngồi yên, đồng thời chuẩn bị cho lần phản kích sau này.
Ta không khỏi thầm cảm thán. Quả không hổ là những lão tướng đã lăn lộn nơi triều đình nhiều năm. Họ hiểu thấu nhược điểm của nhân tâm, sự xấu xí của chính trị, lại cực kỳ giỏi điều khiển và lợi dụng những thứ ấy, biến chúng thành lưỡi đao trong tay mình.
Ta từng hỏi Đỉnh Tân tiên sinh: ông nhìn nhận thế nào về những cuộc tranh đấu chém giết nơi quan trường?
Tiên sinh ghét cay ghét đắng mọi quyền thuật mưu kế. Ông cho rằng kẻ làm quan nên tận tâm vì nước vì dân, chứ không nên dùng mưu vì quyền vì thế. Ông mong một ngày có thể chấm dứt những cuộc đấu đá vô nghĩa nơi quan trường, con người với con người cũng không cần tranh chấp, mà đem tinh lực đặt vào những việc chính đáng có lợi cho nước, cho dân, cho chính mình.
Ta cho rằng điều tiên sinh mong muốn là một thế giới lý tưởng hoàn mỹ, và ta cũng hướng về nó.
Vì thế ta hỏi tiên sinh: phải làm thế nào mới đạt được thế giới lý tưởng ấy?
Tiên sinh trầm mặc.
Ta nghĩ, ông vốn biết đáp án, chỉ là rất khó chấp nhận.
Muốn con người không đấu, tức là phải xóa bỏ mọi mâu thuẫn. Điều ấy khó hơn lên trời. Cho nên, muốn đạt được lý tưởng, rốt cuộc vẫn phải đấu.
Dù quyền thuật tranh đoạt có xấu xí đến đâu, chuyện ấy vẫn phải có người làm.
Ta hít sâu một hơi, cất giọng vang dội: “Lời của Thôi đại nhân, e rằng sai rồi!”
Ta bước ra khỏi hàng, vạt áo cuốn theo một luồng gió gấp, tiến thẳng đến bên cạnh Thôi Thuyên, trước mặt nữ đế.
“Nếu nói độc Xích Luyện là bằng chứng sắt đá, thì trong tay thần cũng có một bằng chứng sắt đá.”
Ta rút từ trong tay áo ra một cuộn văn thư đã ngả vàng, giơ cao.
“Đây là sổ ghi chép vườn ngự uyển trong cung, do Ty Nông tự Thiếu khanh Minh Kính đích thân đối chiếu. Ứng Tích Triều từng nói, ngày ấy nàng đã đổ chén rượu độc xuống đất ở hành lang ngoài tẩm điện của tiên hoàng. Độc Xích Luyện có chứa đan duyên, thấy máu phong hầu, lại có thể làm mục cỏ héo cây. Thế nhưng theo ghi chép của Ty Nông tự, trước sau thời điểm tiên hoàng băng hà, trong phạm vi ba trượng ngoài điện không hề có một cây hoa cỏ nào khô héo bất thường. Nếu chén rượu độc kia thật sự bị đổ ở đó như lời Ứng Tích Triều, thì những khóm lan được chăm bón cẩn thận kia đã phải hóa thành đất cháy từ lâu. Vì sao trong nguyệt báo của Ty Nông tự lại không hề nhắc đến?”
Ta dừng lại, ánh mắt quét qua khắp đại điện, nói rõ ràng từng chữ từng chữ: “Trừ phi, trong chén rượu ấy căn bản không có độc.”
Trong điện ai nấy đều lộ vẻ kinh ngạc. Không ai ngờ được biến cố kinh thiên này.
Chỉ có nữ đế Vi Chiêu Y vẫn trầm trầm nhìn ta.
Sắc mặt Thôi Thuyên đột biến, quát lớn phản bác: “Có lẽ Ứng Tích Triều nhớ nhầm chỗ!”
Ta đáp: “Thôi đại nhân, khẩu cung của Ứng Tích Triều đang nằm trong tay ngài, đó là chứng từ trình đường mà chính ngài đã thừa nhận. Tam ty hội thẩm cũng đã đối chiếu từng chi tiết một. Sao đến trước điện lại có thể lật lời?”
Thôi Thuyên còn chưa kịp nghĩ ra lời phản bác, Nghiêm Giác đã bước lên một bước, tâu: “Thần có bản tấu. Có người đã âm thầm tráo đổi vật chứng quan trọng của án tiên hoàng, vốn được niêm phong tại Hình bộ, chính là ngọc hồ đựng rượu.”
Lời ấy vừa dứt, cả điện ồ lên.
Thôi Thuyên giận dữ quát: “Nghiêm Giác! Ở đây khi nào đến lượt ngươi nói chuyện, lui xuống!”
Nghiêm Giác làm như không nghe thấy, chỉ nói tiếp: “Kẻ tráo ngọc hồ vô cùng xảo quyệt. Sau khi đắc thủ còn cố ý phủ thêm một lớp bụi lên hòm vật chứng, muốn lấy đó che mắt thiên hạ. Nhưng trong Hình bộ có ba trăm bảy mươi sáu vụ án tồn đọng lớn nhỏ, thần đều định kỳ nửa tháng kiểm tra mọi vật chứng một lần. Trên đời này chỉ có mình thần biết rõ lớp bụi tích tụ trong nửa tháng phải dày đến mức nào. Ngọc hồ kia làm giả giống hệt cái cũ, nhưng lại không biết rằng bên trong ngọc hồ thật có ba vết nứt, hẳn là do từng bị va chạm mà thành.”
Nghiêm Giác dùng hai tay nâng trục họa, tâu rằng: “Đây là bản đồ chứng vật trong ngoài của chiếc ngọc hồ, do thần vẽ ba năm trước. Xin hỏi bệ hạ, ngọc hồ trong cung bệ hạ từng bị va chạm hay chưa? Nếu có, là va ở chỗ nào?”
Nữ đế Vi Chiêu Y trầm mặc một lát rồi đáp: “Ngọc hồ ấy, trẫm quả có lần lỡ tay làm rơi, đúng vào chỗ ba tấc bên phải dưới tay cầm.”
Nghiêm Giác mở trục họa ra. Chỉ thấy trong hình vẽ cấu tạo bên trong ngọc hồ, ngay chỗ dưới tay cầm ba tấc bên phải, quả nhiên hiện rõ ba vết nứt.
Nghiêm Giác nói: “Kẻ hữu tâm đã bôi độc vào nắp ngọc hồ giả, vốn là muốn chứng thực rằng rượu từng bị hạ độc Xích Luyện. Không ngờ vẽ rắn thêm chân, rốt cuộc lại tự làm hỏng việc.”
Ta thầm cho là phải. Bởi vậy hôm ấy Nghiêm Giác mới nói đầy hàm ý rằng mọi chuyện đều quá thuận lợi.
Lúc này Nhậm Lý cũng bước lên một bước, tâu: “Thần cũng có điều muốn tâu. Môn Hạ tỉnh theo lệ đã thẩm tra lại toàn bộ quy trình tam ty hội thẩm. Thôi Thuyên nhiều lần uy bức dụ dỗ, thậm chí còn không tiếc hối lộ thần, chỉ vì muốn sớm kết án cho xong. Thần cùng Nghiêm Giác đã xem qua ghi chép ra vào của Hình bộ. Người có cơ hội vào Hình bộ để tráo đổi vật chứng, nhất định phải được Thôi thượng thư cho phép.”
Ta cũng tâu rằng: “Nếu bệ hạ chưa từng hạ độc vào rượu, vậy thì căn bản không tồn tại sát tâm. Lời nói bệ hạ bức bách tiên hoàng tự tận càng không thể đứng vững.”
Thôi Thuyên lảo đảo như tòa đại hạ sắp đổ. Trong mắt ông ta bỗng bắn ra ánh sáng đáng sợ, vẻ mặt gần như điên loạn, chỉ thẳng vào chúng ta mà gào lên: “Đỗ Nặc, Nghiêm Giác, Nhậm Lý! Các ngươi… các ngươi dám phản bội tiên hoàng! Người ngoài không biết, nhưng lão phu rõ ràng. Năm xưa tiên hoàng cải danh thành Đỉnh Tân tiên sinh, vi hành đến Thái Học, từng đích thân chỉ điểm một nhóm học sinh từ Việt Châu tới, chính là các ngươi! Các ngươi đều là học trò do một tay ngài đề bạt!”
Trong điện lập tức rơi vào tĩnh mịch.
Sau lưng ta, ánh mắt Nhậm Lý khẽ run lên. Nghiêm Giác cũng vô thức siết chặt tay. Ở nơi góc điện, Minh Kính với quầng mắt thâm đen hiện lên một nụ cười chua chát.
Tóc mai Thôi Thuyên rối loạn, vẻ bi phẫn chân thực khiến giọng ông ta khàn đi mấy phần: “Ăn lộc của tiên hoàng, nhận ân của tiên hoàng, nay lại quay sang biện bạch cho kẻ giết vua! Các ngươi đây là ăn cây táo rào cây sung, là bôi nhọ tiên hoàng!”
“Thôi thượng thư đã lầm rồi.” Ta bình tĩnh đáp.
“Tiên hoàng đã sớm nói rõ trong thư tuyệt mệnh rằng mong tân quân mang lòng yêu dân, siêng năng trị quốc; quần thần phải đem tài kinh luân ra phụ tá minh quân, khiến triều ta tái hiện cảnh thịnh trị. Chúng thần chịu dạy dỗ của tiên hoàng, học được không phải là ngu trung, mà là lấy pháp lý làm cương, lấy xã tắc làm trọng. Tiên hoàng dạy chúng thần thế sự vô thường, phải biết quý trọng hiện tại, không phải để chúng thần bị trói buộc bởi ân riêng, mà là phải nhìn rõ—”
Ta ngẩng đầu, ánh mắt chạm thẳng vào nữ đế Vi Chiêu Y trên ngự tọa.
“Rốt cuộc nên phò tá một bậc quân chủ như thế nào, và phải bảo vệ một quốc gia ra sao.”
“Tiên hoàng chỉ yêu vị thanh liệt của Minh Tiền Long Tỉnh, cũng giống như lý tưởng trị quốc mà ngài theo đuổi. Nhưng khi ngài phát hiện mình nhân từ mà do dự, không đủ sức xoay chuyển cục diện; khi nhìn thấy ngoại địch vây bủa, nội hoạn dấy lên, lý tưởng của ngài đã sụp đổ. Bức thư ấy không phải tội chứng, mà là phán quyết cuối cùng của một kẻ theo đuổi lý tưởng dành cho chính mình.”
“Láo xược!” Thôi Thuyên gầm lên. “Ngươi dám đánh giá tiên hoàng như vậy…”
“Câm miệng.”
Nữ đế Vi Chiêu Y cất lời. Giọng không cao, nhưng lập tức trấn áp toàn điện. Ánh mắt sâu không đáy của bà dừng trên người ta.
“Đỗ Nặc, ngươi nói cái chết của tiên hoàng là sự tự quyết sau khi lý tưởng sụp đổ?” Giọng nữ đế không lộ hỉ nộ.
“Phải.” Ta đứng thẳng lưng, nói. “Bệ hạ, có lẽ ngài từng sinh sát tâm, có lẽ từng dùng thủ đoạn. Nhưng trong chuyện này, lựa chọn của tiên hoàng mới là căn nguyên. Nếu đem việc tự tận của ngài ấy quy tội cho người khác, ấy mới là sự khinh nhờn lớn nhất đối với cả đời truy cầu tiên hoàng.”
Nhậm Lý bước lên một bước, tâu: “Môn Hạ tỉnh thẩm tra lại vụ án, chỉ luận theo luật pháp cùng nhân chứng vật chứng. Thư tuyệt mệnh của tiên hoàng đã bày rõ chí hướng, ấy là bằng chứng sắt đá. Chén rượu bệ hạ sai dâng hôm ấy không có độc, cũng có thể tra. Nếu còn dùng lý lẽ ‘bức bách tâm lý’ để kết tội, ấy là lẫn lộn phải trái, trái với pháp luật.”
Ta chắp tay quỳ xuống, nói: “Đỉnh Tân tiên sinh từng nói với thần một câu: việc gì cũng có thể nói với người. Cho nên tiên hoàng biết rõ tự tận có thể bị đời sau phỉ báng, vẫn chọn để lại bức thư. Thần cho rằng sự thẳng thắn của tiên hoàng chính là không có điều gì không thể nói với người.”
“Bệ hạ, tiên hoàng tự tận là nỗi đau kín của hoàng thất. Nhưng nếu chân tướng bị bóp méo, thiên hạ chỉ càng thêm nghi ngờ. Thần cùng các đồng liêu khẩn xin bệ hạ lấy quốc gia làm trọng, ban chiếu cáo thiên hạ, làm rõ chí của tiên hoàng, an định lòng xã tắc!”
Sau lưng ta, Nghiêm Giác, Nhậm Lý và Minh Kính đồng loạt quỳ xuống.
Rất nhanh, trong triều vốn tĩnh lặng lại dấy lên động tĩnh.
Viên ngoại lang Chức Phương ty Bộ Binh Ngô Yến, Tả giáo thự thừa Giám Tác giám Lăng Huyễn, Chủ bạ Hồng Lư tự Chu Biện Chi, Giám sự Tả Tàng thự Thái Phủ tự Trịnh Nghĩa, Lệnh quan chính Ty Thiên đài Tô Tinh Lan…
Chúng ta đều đến từ Việt Châu, từng cùng bước vào một gian tư thục, thuở nhỏ theo học Đức Linh tiên sinh, cùng nhau tìm cầu học vấn.
Sau đó, nhờ một phen cơ duyên trùng hợp, chúng ta lại được Đỉnh Tân tiên sinh khai tâm chỉ dạy. Xuất thân bình thường, bao năm đèn sách nơi cửa lạnh, như cát sỏi bị sóng lớn sàng lọc, đến một ngày mới may mắn đỗ đạt, nhặt được một viên gạch gõ cửa con đường làm quan.
Chúng ta để tâm đến công lý và chân tướng, để tâm đến được mất lợi hại, cũng để tâm đến chiếc ô sa trên đầu.
Chúng ta đã cùng trải qua sự sụp đổ của lý tưởng, thậm chí không thể tiếp nối lý tưởng của người. Vì thế, chúng ta trở thành những kẻ thuộc về “những việc ấy rốt cuộc vẫn phải có người làm”, dùng lời nói và hành động để chứng minh con đường của mình.
Chuông đồng nơi góc mái leng keng trong luồng gió xuyên qua hành lang. Âm thanh ấy hòa cùng tiếng đế giày của hai mươi ba vị quan đang quỳ rạp xuống đất, dập dềnh thành từng đợt. Chim yến làm tổ trên xà nhà giật mình vỗ cánh bay vút qua ngự tọa; mẩu bùn cỏ trong miệng chúng rơi xuống đúng trên tấm biển treo giữa điện.
Đại nhân Lương Anh, người vốn nổi tiếng thẳng thắn không kiêng dè, chính khí lẫm liệt, xưa nay chẳng thuận ai, lúc này bước lên một bước, nghẹn giọng nói: “Bệ hạ, lão thần trải ba triều, chịu ân tiên đế, sớm đã lập thệ đem thân tàn báo đáp triều đình. Hôm nay nhìn thấy Đỗ đại nhân cùng chư vị quan viên, lão thần mới hay chí hướng của mình vẫn còn hạn hẹp. Triều ta có được những vị quan không thiên không lệch, đường ngay mà đi như thế, thật là phúc của giang sơn. Xin bệ hạ ban chiếu cáo thiên hạ, để yên lòng xã tắc.”
Lời ấy vừa dứt, những quan viên xưa nay giữ lập trường trung lập, cùng phe với Lương Anh, cũng lần lượt quỳ xuống thỉnh mệnh.
Ánh mắt nữ đế Vi Chiêu Y chậm rãi lướt qua ta, rồi dừng lại nơi Nhậm Lý, Nghiêm Giác, Minh Kính đứng phía sau.
Hồi lâu, bà bỗng khẽ cười.
Nụ cười ấy vừa như buông bỏ, lại vừa mang theo chút mỏi mệt.
Bà nói: “Trẫm trước nay vẫn cho rằng tiên hoàng nhân hậu mềm yếu, đạo trị quốc quá lý tưởng, dễ vỡ. Nhưng nay xem ra, dụng tâm của tiên hoàng thâm sâu đến mức khiến trẫm phải khâm phục. Tài nhìn người dùng người, trẫm không bằng ngài.”
Ánh dương ngoài điện rốt cuộc cũng xuyên qua tầng mây, chiếu sáng tấm biển “Chính Đại Quang Minh” treo giữa điện.
Nữ đế đứng dậy. Long bào rộng lớn sau lưng bà trải ra như một đóa mẫu đơn đen đang nở rộ.
“Tiên hoàng từng cùng trẫm luận về căn bản của khoa cử. Chỉ khi tuyển chọn được những quan viên thật sự có tài, có trách nhiệm, mới có thể gánh vác việc dựng nên chiếc cầu nối giữa quân quyền và lòng dân. Quan viên phải thi hành quốc sách, khiến chính lệnh thông suốt khắp nơi, lại càng phải mưu phúc cho dân, giải nỗi lo cho dân. Một vị quan tốt, không ở chức vị lớn nhỏ, mà ở sự dám hành động, ở tín niệm kiên định.”
“Vụ án này phát triển đến mức này, chính vì những kẻ thấu hiểu tranh đoạt quyền thế luôn xem việc tranh đoạt hoàng quyền là trọng yếu nhất, toan lấy thể diện hoàng thất để che đậy tất cả. Đáng hổ thẹn thay, trẫm cũng từng như vậy.”
“Nếu còn vì giữ gìn cái gọi là thể diện hoàng gia mà mặc cho chân tướng bị bóp méo, khiến thiên hạ nghi ngờ hoàng thất, khiến bá tánh thất vọng với triều đình, thì hoàng quyền ấy, dù ở trên cao đến đâu, cũng chẳng còn ý nghĩa. Trên hoàng quyền, phải là thiên hạ bách tính.”
“Tiên hoàng đã rời đi, nhưng đã để lại một nhóm hiền tài trung dũng bảo vệ quốc gia. Công lao của tiên hoàng không nên bị chôn vùi, sự thẳng thắn của ngài cũng nên để thiên hạ đều biết.”
“Hôm nay, trẫm sẽ thuận theo lời các khanh. Lấy quốc gia làm trọng, ban chiếu cáo thiên hạ, làm sáng tỏ chí hướng của tiên hoàng, để yên lòng xã tắc!”
Nữ đế Vi Chiêu Y nhìn ra bầu trời mênh mông ngoài điện.
Tựa như nơi đó, con chim hoàng yến mà tiên hoàng từng thả bay đang hướng về phía tự do, càng bay càng xa.
8
Trên cánh đồng hoang, gió mát thổi nhè nhẹ.
Phía xa là ngoại thành kinh đô, loáng thoáng vẫn nghe tiếng rao của kẻ buôn người gánh.
Mọi thứ đều yên ả như vậy, tựa hồ dẫu từng xảy ra những cơn trời long đất lở đến đâu, rồi cũng sẽ bị thời gian san phẳng, lại nảy ra những cành non mới.
Con người vẫn phải bước tiếp về phía trước.
Ta chắp tay với Ứng Tích Triều, chúc mừng: “Chúc mừng ngươi, giữ được một mạng, lại đổi về thân tự do.”
Ứng Tích Triều mỉm cười: “Ta phải cảm tạ Đỗ đại nhân. Nếu không có Đỗ đại nhân dẫn dắt các đồng môn kiên trì đến cùng, làm sao có thể dẹp yên cơn sóng gió này bằng kết cục tốt đẹp nhất?”
Phải vậy.
Vụ án tiên hoàng gây náo động bấy lâu cuối cùng cũng đã có định luận, chiếu cáo thiên hạ.
Nữ đế Vi Chiêu Y rửa sạch cái danh độc tử mang trên mình nhiều năm. Việc bà vì muốn giữ danh dự cho tiên hoàng mà cam chịu tự nhận tiếng ác, khiến người ta không khỏi cảm thán tấm lòng phụ mẫu trong thiên hạ; bậc quân vương vốn uy nghiêm bất khả xâm phạm, bởi một phần tình riêng ấy mà trở nên sinh động, gần gũi hơn. Phong độ xử trí trong vụ án tiên hoàng lại càng khiến bà thu phục lòng dân thêm lần nữa.
Còn Tề Hàm Chi vì lý tưởng tan vỡ, không chịu nổi gánh nặng mà tự tận, nhưng lại để lại một lớp học trò trung quân hộ quốc, kế thừa di chí của y, thay dân lên tiếng. Cái chết của y cũng được người đời cho là có giá trị.
Chúng ta chỉ sau một đêm đã trở thành nơi ký thác lòng dân mới. Bách tính gọi chúng ta là “Thừa Chí phái”, dường như chúng ta trở thành niềm hy vọng mới.
Còn về Thôi Thuyên cùng những kẻ đồng đảng mưu đồ phục hưng tông thất, bởi bóp méo chân tướng, hèn hạ giá họa nên mất hết lòng dân, nguyên khí đại thương.
Nữ đế thuận thế thanh lọc triều dã trong ngoài, binh không đổ máu.
Rốt cuộc, hướng đi của câu chuyện vẫn theo đúng sự sắp đặt ban đầu: phe nữ đế, phe Thôi Thuyên, và phe của chúng ta đạt tới một sự cân bằng vi diệu mà ai nấy đều ngầm hiểu.
Tiên hoàng vẫn trở thành minh chủ “lấy cái chết chứng đạo”, dùng một cách khác để giữ lại thể diện cho thiên gia, đồng thời cũng cắt đứt ý đồ của những kẻ muốn mượn cớ “quân đức có khiếm khuyết” mà gây sóng gió.
Chiêu “bỏ nguyên nhân cái chết, giữ lấy ý nghĩa của cái chết” ấy, thoạt nhìn như làm mềm hóa chân tướng, nhưng thực ra là dùng thi thể của tiên hoàng làm tảng đá trấn cuối cùng cho nền móng tân triều.
Chỉ khổ cho người nơi suối vàng, rốt cuộc vẫn trở thành quân cờ bị bỏ trong ván cờ này.
Mà sau trận tranh đấu chấn động thiên hạ ấy, người nắm hết mọi bí mật như Ứng Tích Triều lại thật sự sống sót.
Ta vẫn cảm thấy khó tin, bèn hỏi: “Bệ hạ thật sự chịu thả ngươi đi sao?”
Ứng Tích Triều mỉm cười.
Ba ngày trước, nàng cũng từng hỏi Vi Chiêu Y như vậy.
“Bệ hạ thật sự chịu thả ta đi sao?”
Trong tẩm điện từng náo nhiệt rất lâu của Vi Chiêu Y, lúc này chỉ còn lại hai người họ.
Ứng Tích Triều không còn nằm rạp trên đầu gối Vi Chiêu Y nữa. Nàng đã búi lại mái tóc đen nhánh, không còn là thiếu nữ để tóc buông dài, vô dục vô cầu như trước.
Còn Vi Chiêu Y thì càng thêm uy nghiêm lạnh lẽo. Quyền lực sát phạt đã sớm cuốn đi tia nhu tình cuối cùng trên gương mặt bà, cũng khiến hai bên tóc mai nhuốm sương bạc sớm hơn tuổi.
Giữa họ giờ đây như Sở Hà Hán Giới, ranh giới phân minh.
Vi Chiêu Y nhìn Ứng Tích Triều. Trong đáy mắt bà lúc này lắng đọng thứ cảm xúc khó phân là tức giận hay hoài niệm.
Ứng Tích Triều vẫn luôn nghe lời bà. Thế mà chính người luôn nghe lời ấy, lại nảy sinh tâm ý của riêng mình, đến phút cuối suýt nữa làm rối loạn toàn bộ kế hoạch của bà.
Bà vốn nên giết nàng.
Vi Chiêu Y khẽ thở dài, chợt nói một câu tưởng chừng chẳng liên quan: “Hai năm trước, Sóc Tuyết chết rồi.”
Ứng Tích Triều hơi sững lại.
Vi Chiêu Y nói: “Khi ấy có người muốn đầu độc trẫm. Nó lại vô tình thay trẫm ăn phải bát canh có độc. Trẫm ôm nó, cho đến khi thân nó trong lòng trẫm dần dần cứng lại, nhiệt độ từng chút một tan đi…”
Bà vô thức vuốt nhẹ long ỷ, nói tiếp: “Từ nhỏ trẫm đã bị dạy tam tòng tứ đức, tam cương ngũ thường. Nhưng trẫm vốn chẳng thích những chuyện hoa tiền nguyệt hạ, thêu thùa kim chỉ; vậy mà người ta lại nói đó mới là lẽ phải. Trẫm không phục, thề sẽ sống theo ý mình. Sư phó của trẫm nói, trẫm có thể làm vậy, nhưng phải chuẩn bị trả giá rất nhiều.”
“Trẫm biết, muốn ngồi vững trên vương vị này thì phải bỏ đi vài phần tình, bỏ đi vài người. Từ lâu trẫm đã chuẩn bị sẵn tâm thế đầu lìa khỏi cổ, chết không toàn thây. Chỉ không ngờ cuối cùng lại để một con chó gánh tai ương thay mình.”
“Đã rất lâu rồi trẫm chưa từng đau lòng đến thế. Trẫm tự nhủ, nó đã là chó của trẫm, vậy đó chính là số mệnh của nó.”
Vi Chiêu Y tự giễu cười một tiếng.
Nụ cười châm biếm ấy rốt cuộc cũng xé toạc lớp lạnh lùng của bà, để lộ ra một chút yếu mềm cùng rung động.
“Năm ấy trong vò rượu kia, trẫm quả thực đã hạ độc. Nhưng khi nghe tiếng bước chân của ngươi dần đến gần, trẫm chẳng hiểu vì sao lại cất vò rượu độc đi, đổi cho ngươi một vò không độc.”
“Khi ấy, ý nghĩ đầu tiên của trẫm là: hà tất phải làm khó thêm một người chẳng còn sống được bao lâu.”
“Sau đó trẫm mới nhớ ra, người sắp chết kia kỳ thực là con của trẫm. Giữa trẫm và nó cũng từng có lúc mẫu hiền tử hiếu, cùng hưởng niềm vui gia đình.”
Bà lại nhìn về phía Ứng Tích Triều.
Ánh mắt lúc này nhuốm đầy phong sương, giống hệt một lão nhân xế chiều sắp tàn.
“Chiêu nhi, người thân trên đời này của trẫm… chỉ còn lại ngươi.”
Trong khoảnh khắc, tầm mắt Ứng Tích Triều bỗng mờ đi. Nỗi chua xót nghẹn nơi cổ họng khiến nàng chỉ khẽ động môi, rốt cuộc vẫn cúi đầu xuống.
Nhưng vẻ yếu mềm trên mặt Vi Chiêu Y thoáng chốc đã tan biến.
Chỉ trong chớp mắt, bà đã thu lại hết thảy dáng vẻ già nua, trở về thành chân long có thể ngự trị cửu thiên.
Bà nhìn về phương xa, ánh mắt lạnh lẽo, thâm viễn.
“Đi đi.”
“Dùng bản lĩnh của ngươi mà ẩn mình cho thật kỹ.”
“Vĩnh viễn… đừng để trẫm tìm được ngươi nữa.”
…………..
Ứng Tích Triều nay bình thản, nàng vẫn luôn như vậy, ngay cả hôm đứng trước đại điện hôm ấy cũng thế.
Ta cố ghi nhớ dung mạo hiện tại của nàng, nhưng nhất thời lại có chút mơ hồ. Ai có thể chắc rằng gương mặt của Ứng Tích Triều trước mắt này thật sự là diện mạo nguyên bản của nàng hay không?
Ta hiểu rõ có những bí mật nên vĩnh viễn chôn vùi, không nên để lộ dưới ánh mặt trời. Nhưng rốt cuộc vẫn không kìm được mà hỏi: “Ứng Tích Triều, ngươi thật sự không biết rượu mà bệ hạ sai ngươi mang đi vốn không có độc sao? Ngày ấy, ngươi thật sự đã đem vò rượu độc đổ vào vườn hoa ư?”
Ứng Tích Triều nheo mắt cười nhìn ta, hỏi ngược lại: “Vậy Đỗ đại nhân thật sự là đến trước khi thẩm tra tại điện mới biết Thôi Thuyên tráo đổi nhật nguyệt, làm giả vò rượu sao?”
Ta trầm mặc nhìn nàng.
Nàng lại hỏi tiếp: “Bệ hạ đã tự nhận là kẻ hạ độc nhi tử, vậy vì sao lại cố ý nói rõ thứ độc ấy là độc Xích Luyện? Là lời nói trong lúc hoảng loạn, hay là dẫn dụ kẻ khác vào bẫy?”
Ứng Tích Triều lắc đầu, lại mỉm cười nói:
“Năm đó, ta phụng mệnh bệ hạ giám thị Tề Hàm Chi, phản bội lòng tin của y, lại không kịp cứu mạng y. Ta có lỗi với y, lẽ ra phải lấy một mạng trả một mạng. Chỉ là bệ hạ nhất thời không nỡ, mới lưu lại cho ta một con đường sống.
“Ta còn sống, là bởi vụ án này sớm muộn cũng phải kết thúc. Khi ấy, bút tích của Tề Hàm Chi phải xuất hiện đúng vào lúc then chốt, như vậy mới không uổng phí một phen khổ tâm của y.”
“Suy cho cùng, hết thảy cũng chỉ là một ván cờ, một cuộc tính toán. Nếu đã vậy, hà tất phải truy đến tận cùng thật giả?”
Ta bật cười, không khỏi thở dài: “Nếu tiên hoàng biết rằng triều đình hôm nay, từ tiền triều đến hậu cung đều là những kẻ như chúng ta thuận gió đổi buồm, mưu toan tính kế — e rằng sẽ thất vọng lắm.”
Ứng Tích Triều lại cười:
“Bất luận năm đó rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì, lòng người khi ấy ra sao, với người đời hôm nay cũng không còn quan trọng nữa.”
“Cũng như nghìn trăm năm sau, e rằng chẳng ai còn nhớ đến những chuyện hôm nay. Ai đúng ai sai đều tan theo mây khói.”
“Nhưng từ hôm nay trở đi, Đỗ đại nhân cùng các đồng môn sẽ nói gì, dạy gì, giữ lời hứa ra sao, làm quan như thế nào, đó mới là điều chân thực, có thể giúp ích cho người trước mắt.”
Ta chắp tay, thành tâm thi lễ: “Những lời của Ứng cô nương, Đỗ mỗ nhất định ghi khắc trong lòng.”
Ứng Tích Triều dắt con ngựa đã chờ sẵn bên cạnh, nói: “Nay mọi việc đã định, ta cũng nên đi rồi.”
Ta nhìn sang lão Tằng. Từ nãy đến giờ, hắn vẫn một mực im lặng.
Ta lại quay đầu nhìn quanh một lượt, trong phạm vi mấy dặm cũng không thấy chỗ nào có thể giấu con ngựa mà hắn lén chuẩn bị.
Lão Tằng không nói, ta đành thay hắn hỏi: “Ứng cô nương sau này định đi đâu?”
“Không biết. Đi đến đâu thì tính đến đó, sống thêm được ngày nào thì coi như ngày ấy vậy.”
Ta nhất thời cạn lời, rốt cuộc đành đem câu chuyện ném sang phía lão Tằng: “Lão Tằng, hay là ngươi tiễn Ứng cô nương một đoạn?”
Lão Tằng muốn nói lại thôi. Do dự chốc lát, chỉ khẽ ho một tiếng, quay mặt sang chỗ khác nói: “Đại Lý tự còn chất đống công vụ, ta còn phải tra xét từng việc một…”
Ta trợn mắt, huýt một tiếng sáo, cắt ngang lời hắn.
Một con ô chuy mã đen tuyền như mực, phi đến như sấm chớp xé gió, dẫm cỏ mà lao tới, dừng ngay trước mặt Tằng Tri Hứa.
Ta vỗ vai lão Tằng, thiện ý khuyên: “Lão Tằng à, bớt làm việc một ngày cũng chẳng chết ai. Nhưng nếu bỏ lỡ việc tiễn người một đoạn đường, sau này e chỉ còn lại tiếc nuối.”
Lời đã nói đến vậy, nói thêm nữa cũng vô ích.
Ta xoay người rời đi, đem thời gian và không gian nhường lại cho họ.
Về phần giữa họ sau này sẽ còn xảy ra chuyện gì, đã không còn liên quan đến ta nữa.
Ta sải bước hướng về đô thành, đi tới nơi mình nên đến.
Cỏ xanh dưới chân ta mọc lên, lay động trong gió, sinh sôi không dứt.
Ta bất giác ngâm lên mấy câu:
Lăng Tiêu phong vân khởi,
Kim lân mưa gấp rơi.
Bút tích tiên hoàng ẩn,
Mê vụ che mắt người.
Quỳnh hoa một chén cạn,
Quá khứ thảy tiêu tan.
Cao đường Chính Đại Quang Minh
Tam ty đồng xét án.
Xích luyện chưa hại cỏ,
Ngọc hồ soi lòng người.
Hoàng quyền nghìn cân nặng,
Dân thanh vạn tầng mây.
Chớ ngoái đầu,
Đừng sợ đường trước nhiều phong vũ.
Chớ chần chừ,
Kẻo do dự lỡ mất thời.
Tằng Tri Hứa,
Chớ đợi tóc bạc rồi mới than.
Ứng Tích Triều,
Chớ để năm tháng phụ lòng ban đầu.
Để lại một bình luận