Trong cõi Vi Chu, gà mái khắp chốn đồng loạt gáy vào rạng sáng, điều này bị coi là điềm dữ vì gà mái gáy sáng thay gà trống trái với thiên đạo. Từ đó, triều đình cũ nhân cớ ấy mà phát động cuộc vây hãm quy mô lớn nhắm thẳng vào Nữ đế Vi Chiêu Y.

Tằng Tri Hứa – người thấu tỏ hết thảy đã đem đến trước mặt Vi Chiêu Y hai con đường: Hoặc công bố sự thật về cái chết của thái tử Yến quốc Tra Đô, hoặc vạch trần chân tướng vụ đầu độc tiên hoàng Tề Hàm Chi.

Vi Chiêu Y phải làm ra lựa chọn giữa việc củng cố thiên hạ thái bình hay bảo vệ ngôi vị đế vương…

1.

Sắp đến gần đô thành, ta phát hiện vài thôn làng ven đường đều đang giết gà mái. Đợi đến khi tiến vào thành, mới thấy gà trong thành bị cắt cổ, lấy máu, cũng nối đuôi không dứt.

Thì ra hai hôm trước, gà mái khắp nước bỗng đồng loạt gáy vào canh năm.

Mẫu kê tư thần, điềm nghịch thiên tượng.

Thiên hạ đều cho đó là điềm chẳng lành, tự nhiên phải giết đi loài súc sinh một đêm thành tà vật ấy. Hai chữ “bất thường” hóa thành cơn cuồng phong tàn phá vạn vật, trong chốc lát đã cuốn khắp Vi Chu.

Bách tính hoang mang, nhưng cũng không khỏi thì thầm to nhỏ về nữ đế đương triều, lời lẽ đầy rẫy ưu sầu bị dị tượng bao phủ.

Càng nhiều hơn là lời đồn đoán bà có thật sự hạ độc giết chính con mình hay chăng.

Thật đúng là gà bay chó sủa, ồn ào huyên náo.

Ta vừa đến trước cung môn, liền thấy dân chúng vây xem đông nghìn nghịt, bá quan văn võ quỳ gối nơi cửa cung, gào khóc kêu oan, đấm ngực dậm chân.

“Cái chết của Tiên hoàng, cần phán đoán công minh!”

“Mẫu kê tư thần, của nát nhà tan!”

“Nội chính rối ren, ngoại địch hoành hành! Nữ tử nhu nhược, khó gánh trọng trách!”

“Trời có nhật nguyệt, đất có âm dương, nam là càn, nữ là khôn, ấy là lẽ đạo trời! Không thể đi ngược với Thiên đạo, không thể phế tổ huấn. Nếu cứ tiếp diễn, át bị trời phạt!”

“Cúi xin bệ hạ lấy xã tắc làm trọng, trả quyền về tông thất, để yên lòng thiên hạ, tránh liên lụy lê dân chịu vạ!”

Ngôn quan Lương Toản đại nhân vừa dứt tiếng hô liền liếc thấy ta, như gặp được đồng minh, bèn kích động giơ tay cao gọi to: “Tằng đại nhân đã về!”

Chớp mắt một cái, ta đã bị các vị đại nhân vây quanh. Bọn họ tranh nhau dò hỏi, vụ án ở Trừng Châu còn có tình tiết nào chưa tỏ? Tiện tì độc ác Tố Hỉ sát hại thái tử Tra Đô trước khi chết có lưu lại điều gì cơ mật liên quan đến Vi Chu? Thậm chí—

“Đại lý tự xưa nay xử án công chính nghiêm minh, không bằng để Tằng đại nhân dẫn đầu, cùng chư vị tiến thẳng vào Tuyên Chính điện! Án Tiên hoàng trúng độc mà chết, hôm nay bệ hạ phải cho thiên hạ một lời rõ ràng!”

Giữa cơn giận dữ sục sôi, ta bỗng chốc hóa thành ngọn đèn sáng dẫn đường.

Ta cất lời: “Các vị, Đại lý tự phá án xưa nay lấy sự thực làm căn, lấy luật pháp làm chuẩn. Không vì đế quyền mà lấp liếm chân tướng, cũng không theo lòng người mà bóp méo sự thật.”

Trong đám đông có người bị ta lay động, lại có kẻ cười lạnh giễu cợt: “Tằng đại nhân quả không hổ là người được bệ hạ tín sủng, chỉ giỏi ăn nói vòng vo. Có khi là không nỡ rời chỗ vinh hoa trước mắt, nên mới đến đây lừa dối chúng ta?”

Lại có kẻ phụ họa: “Không sai. Bổn quan nghe nói năm xưa vụ tiên hoàng bị hạ độc, chính là do bệ hạ giao toàn quyền cho Tằng đại nhân điều tra. Năm ấy Tằng đại nhân dựa trên lập trường nào mà vội vàng kết án? Có hay chăng đã giấu kín điều then chốt không cho người biết?”

Lời công kích dồn dập, ta nhất thời không chen lời vào nổi, mà thật ra lúc này cũng chẳng còn gì đáng nói. Ta dứt khoát âm thầm ra hiệu cho các vị đại nhân, ý bảo nhìn về hai cỗ xe ngựa đang dừng nơi không xa.

Hai cỗ xe sóng vai nhau đậu ven đường, chỉ có gió thổi lay rèm nhẹ động, khiến cho hai cỗ xe gỗ mộc mạc kia càng thêm phần thần bí.

Tiếng đòi phạt tội bỗng lắng xuống, các đại thần đưa mắt nhìn nhau, ngẫm ngợi sắc mặt ta, muốn từ biểu tình của ta mà suy ra bí mật trong hai cỗ xe — bí mật ấy liệu có liên quan đến việc phế truất nữ đế chăng?

Một khi họ rơi vào vòng suy đoán, tự khắc sẽ giằng co giữa muôn vàn khả năng trong lòng mình, bận bịu cân nhắc lợi hại, thăm dò thời cuộc. Như thế, họ sẽ càng để tâm đến ý đồ của ta, càng không dám vọng động.

Ta diễn trò diễn cho trót, chắp tay với chúng nhân, nghiêm nghị nói: “Việc hệ trọng không thể chậm trễ, cáo từ.”

Ta đánh xe tiến cung, trong xe truyền ra tiếng cười khúc khích.

Ta ho nhẹ hai tiếng, bên trong lập tức im ắng.

Khóe mắt ta liếc thấy các vị đại thần dần dần khuất bóng, cùng những thị nữ nội thị đứng dọc đường, họ tiếp được tín hiệu của đám đại thần, vừa cung kính hành lễ, vừa lặng lẽ dò xét từng cử động của ta.

Ta chợt nhớ tới những tháng ngày cùng Ứng Tích Triều bôn ba, tuy hung hiểm khắp nơi, trên vai là trọng trách nặng nề, ấy nhưng ta lại thấy được trời rộng đất cao, chim hót hoa nở, lại còn ấm áp hơn bức tường đồng vách sắt trong cung này nhiều lắm.

Dù có là quân vương một nước, cữu ngũ chí tôn, thì từ lúc đặt chân lên đỉnh cao quyền lực cũng buộc phải từ bỏ nhân tình lẫn riêng tư, vĩnh viễn sống trong ánh nhìn, phán xét và mưu tính của thiên hạ.

Ấy là lời nguyền mang tên “cái giá”.

Khi gặp nữ đế, bà như chẳng hề bị thế sự quấy nhiễu chút nào, mà đang chăm chú soạn chiếu, chẳng thèm liếc ta một cái.

“Đã thấy cảnh ngoài cung chưa?”

“Thần đã thấy.”

“Ý khanh thế nào? Việc này rồi sẽ lưu danh thiên cổ, hay trở thành trò cười muôn đời?”

Ta đáp: “Dù là việc vĩ đại hay trò hề kinh thế, chung quy cũng chỉ là náo nhiệt một thời. Thành bại vinh nhục, công tội cá nhân, trước dòng sử ký đều chẳng đáng một đồng.”

Nữ đế khẽ cười, đóng ngọc ấn lên chiếu thư. Bà phất tay, Chu ma ma liền bưng chiếu chỉ mới đi ngang qua ta, hẳn là mang đi truyền lệnh.

Nữ đế lúc này mới ngẩng đầu liếc nhìn ta, nhàn nhã mà có phần thú vị hỏi: “Nếu theo lời khanh, năm tháng mênh mang, xác thân máu thịt chỉ là hạt bụi giữa biển trời, thì đời người chẳng phải làm gì cũng vô nghĩa?”

Ta khom mình, đáp lời dứt khoát: “Thành vương bại tặc, triều đại đổi thay là lẽ xưa nay. Nhưng tướng sĩ vẫn nguyện vì xã tắc mà máu nhuộm sa trường; sinh lão bệnh tử, người không thoát luân hồi, nhưng bách tính vẫn nỗ lực mưu cầu một đời an ổn. Mệnh do trời định, thiên đạo vô tình. Thần cho rằng, người dùng ý chí bản thân để chống lại dòng lũ của thiên mệnh ấy chính là ý nghĩa. Ý nghĩa không nằm ở kết cục, mà ở từng lần lựa chọn và hành động.”

Nữ đế khẽ gật đầu, tựa hồ rất hài lòng với lời ấy.

Ta nói tiếp: “Bệ hạ là quân chủ một nước, dắt triều đình qua trăm mối phong vân, dẫu chỉ là thay đổi nhỏ trong pháp lệnh, cũng có thể khiến vận mệnh vô số người đổi khác. Với họ mà nói, bệ hạ chính là thiên mệnh mà họ cần phải chống lại.”

Trong đôi mắt nữ đế lóe lên hàn quang, ẩn chứa sát ý lạnh lẽo, nhìn ta chằm chằm không rời.

Hồi lâu, bà mỉm cười, nói: “Lời này, e chỉ có Tằng Tri Hứa ngươi dám nói.”

Nữ đế ngừng một thoáng, rồi lơ đãng hỏi: “Sao chỉ một mình ngươi về? Còn Chiêu Nhi đâu?”

Ta đáp: “Thần đang muốn bẩm báo. Mộ Dung Trung muốn mượn cái chết của Tra Đô để kéo ra vụ án cũ của tiên hoàng, nhằm báo thù bệ hạ. Hắn lại dùng tin đồn để khuấy động loạn thế. Thần cùng Chiêu Nhi khám phá mưu đồ của hắn, tiếp tục truy xét, xác nhận Tố Hỉ chẳng qua chỉ là màn khói do Mộ Dung Trung cố ý tung ra, hung thủ chân chính là Tiết Lương. Thần và Chiêu Nhi đã bắt được người, hiện đang ở trong một trong hai cỗ xe ngoài điện.”

Trên mặt nữ đế không hiện sắc mừng, đáy mắt vẫn là trầm tĩnh dò xét.

Bà hỏi: “Trẫm biết ngươi mang hai cỗ xe vào cung, một là Tiết Lương giết Tra Đô, còn xe kia?”

Ta đáp: “Cỗ kia, chính là Chiêu Nhi người đã đầu độc tiên hoàng, vốn nên đã chết.”

Hơi thở rét căm của nữ đế dâng lên quanh thân, khiến trong điện lạnh như gió rét đổ về.

“Nếu công bố hung thủ là Tiết Lương người Vi Chu, Yến quốc ắt đòi công đạo, chiến hỏa sẽ dấy lên. Nhưng việc Yến hậu không sát hại thái tử, lời đồn bệ hạ hại con sẽ tự sụp đổ, khi ấy thiên hạ chẳng ai còn hơi sức bới móc án cũ, nguy cơ của bệ hạ sẽ được hóa giải;

“Nếu vẫn giữ phán quyết Yến hậu hạ độc thái tử, Yến quốc tất nội loạn, không đủ sức lo bên ngoài, hoạ ngoại xâm được trừ. Nhưng việc bức vưa thoái vị tất phải đem Chiêu Nhi ra mới dẹp yên được. Song nếu Chiêu Nhi xuất hiện, việc cũ khó giấu, giang sơn có thể yên, mà ngôi vị của bệ hạ e khó giữ.”

Ta nhìn thẳng vào mắt nữ đế, hỏi rằng: “Hai cỗ xe đều ở ngoài điện, lựa chọn nằm trong tay bệ hạ. Bệ hạ muốn ai ra mặt, để đối đáp với thiên hạ?”

Nữ đế nhìn ta hồi lâu, tiếng cười trầm thấp vang vọng khắp điện.

“Tằng Tri Hứa, nay trẫm rốt cuộc đã hiểu, vì sao năm xưa sư phụ ngươi thà đánh đổi cả thanh danh một đời cũng muốn ngươi ngồi lên chức Đại lý tự khanh. Quả thực, ngươi chẳng khiến thất vọng chút nào.”

2.

Thuở ấy, người ta còn gọi ta là A Tằng, một tiểu khất mồ côi cái lăn lóc đầu đường, không nơi nương tựa.

Hôm đó, ánh nắng lưa thưa rải khắp phố phường. Ta như thường lệ ngồi xổm bên vệ đường, vừa lắng tai nghe lời qua tiếng lại của người qua kẻ lại từ trời nam biển bắc, vừa trông chờ chút bố thí của người tốt bụng nào đó.

Bỗng nhiên, nơi góc phố vang lên tiếng ồn ào xô xát, khiến ta chú ý. Hóa ra là trước cửa tửu lâu nơi góc đường, chưởng quầy Vương Quý đang đỏ mặt tía tai mắng nhiếc một đứa nhỏ rách rưới, miệng lớn tiếng buộc tội nó trộm bánh bao bày bán trước cửa.

Đứa nhỏ đó ta biết, gọi là Mô Mô, cũng là tiểu khất cái như ta, nhỏ hơn ta vài tuổi.

Mô Mô run cầm cập, ra sức lắc đầu, miệng không ngớt lẩm bẩm: “Ta không trộm… thật sự không trộm mà…”

Ta đưa mắt nhìn quầy bánh bao trước cửa tửu lâu, thấy bánh xếp hơi lộn xộn, trên mặt đất lăn lóc vài cái bánh bao đen đúa. Mà tay Mô Mô lại trống không, ánh mắt đầy vẻ hoảng sợ và oan khuất, không giống giả bộ.

Vương Quý mắng lớn: “Ngươi còn dám chối! Bọn tiểu khất cái các ngươi ngày nào cũng lảng vảng trước cửa ta, trộm đồ còn ít chắc!”

Mô Mô bật khóc nức nở, bị Vương Quý đẩy mạnh một cái, ngã nhào vào người ta.

Ta kéo Mô Mô ra sau lưng, hỏi: “Vương chưởng quầy, ngài có tận mắt trông thấy nó trộm bánh bao từ trong xửng hay không?”

Vương Quý lườm ta khinh bỉ: “Khách đến Tiên Khách Lai nhà ta đều là đại quan và quý nhân, trừ các ngươi, còn ai khả nghi?”

Ta lại quay sang hỏi những người vây quanh: “Các vị có ai tận mắt thấy nó trộm bánh không?”

Mọi người đều lắc đầu, nói chỉ nghe thấy tiếng hô hoán của Vương Quý mới chạy lại xem.

Vương Quý kêu to:”Ta tuy không tận mắt thấy nó trộm, nhưng lúc ta ra thì nó đang đứng cạnh quầy bánh, ôm cả đống bánh trong lòng, chẳng phải người tang vật đều đủ cả sao?”

Mô Mô ấm ức giải thích, nói là thấy bánh rơi xuống đất, tưởng là bỏ đi nên mới nhặt lên.

Ta lật tay Mô Mô ra xem, chúng ta ngày ngày lang thang, tay đen nhẻm như nhau.

Lúc này ta lại chú ý tới đất cát bên quầy bánh — đầy những dấu chân lẫn lộn, trong đó có một dấu giẫm lên bùn đỏ, mà hướng đi lại chẳng giống Mô Mô.

Ta lần theo dấu chân ấy đến một góc tường gần đó, quả nhiên tìm thấy một bọc vải rách. Mở ra xem, bên trong là mấy cái bánh bao còn sạch sẽ.

Ta mang bọc bánh trở về, đặt lên bàn, đưa mấy cái bánh còn bốc hơi nóng cho Vương Quý xem, hỏi: “Vương chưởng quầy, đây là mấy cái bánh ngài bị mất phải không?”

Vương Quý biến đổi sắc mặt, thấy người vây càng lúc càng đông, liền cứng miệng nói: “Hừ! Ta biết ngay các ngươi thông đồng! Tính vừa ăn cướp vừa la làng!”

Ta kéo tay Mô Mô, đặt lên xửng hấp bánh, quay sang nói với đám người: “Xửng hấp của Tiên Khách Lai mỗi ngày đều rửa sạch sẽ; còn tay Mô Mô lại đầy bùn đất. Nếu thật là nó trộm bánh, chắc chắn xửng hấp phải lưu lại dấu vết.”

Mọi người nhìn sang, quả nhiên, xửng sạch trơn không vết nhơ.

Ta lại chỉ xuống đất: “Các vị xem kỹ dấu chân, mỗi người đi qua đều có hoa văn đế khác nhau, có thể phân biệt được ai từng tới đây. Đây là của Mô Mô —”

Ta chỉ dấu chân bé hơn hẳn, chỉ quanh quẩn bên đống bánh rơi.

Rồi ta lại chỉ dấu in có bùn đỏ: “Còn dấu này, từ hướng tây đi tới, kéo thẳng đến chỗ góc tường. Vừa rồi ta tìm thấy bánh bị mất ở đó. Mà người để lại dấu chân này…”

Ta đột ngột quay người, chỉ vào một thanh niên có vẻ mặt hoảng hốt trốn sau đám đông, lớn tiếng quát: “Chính là ngươi!”

Trước đó ta đã lặng lẽ quan sát đám đông — phần lớn là tò mò chen xem, chỉ có hắn cứ cúi đầu ngó trước ngó sau, thần sắc bất an.

Ta nhìn kỹ giày hắn, thấy gót giày cũng dính bùn đỏ.

Nam nhân trẻ tuổi kia bị bắt, dưới ánh mắt phẫn nộ của mọi người nên không dám chống chế, cúi đầu nhận tội: vì tham chút lợi nhỏ mà trộm bánh, nguyện y bồi thường.

Vương Quý thấy thế cũng không muốn làm lớn chuyện, nhận bạc rồi để hắn ôm bánh rời đi.

“Khoan đã!” Ta ngăn ông ta lại.

Vương Quý trừng mắt: “Tiểu tử, ngươi còn muốn gì nữa?!”

Ta chỉ vào thỏi bạc trong tay ông ta: “Vương chưởng quầy, bạc này có khắc chữ ‘Bảo Nguyên ngân hiệu’ ở mặt sau không? Năm đúc có phải là năm nay chăng?”

Vương Quý nhìn kỹ, giọng vẫn bực: “Có thì sao?”

Ta thong thả nói: “Ta nghe nói quan phủ gần đây đang tra một vụ — thương nhân buôn tơ lụa từ Giang Chiết mất tích, không thấy xác. Hội buôn Giang Chiết đã quậy tới cả Đại Lý Tự. Mà ‘Bảo Nguyên ngân hiệu’ hình như là ngân hiệu ở Giang Chiết?”

Trong đám đông có người hiểu chuyện gật đầu xác nhận.

Ta lại nói: “Nếu đây là bạc mới đúc năm nay, tất là vừa từ Giang Chiết đưa đến để làm ăn, chưa lưu hành rộng rãi.”

Ta quay sang tên kia hỏi: “Ta nghe giọng ngươi là người bản xứ, bạc này từ đâu ra?”

Lúc này cả Vương Quý cũng ngửi ra mùi bất thường, gọi thêm mấy đại hán bao vây lấy tên kia. Hắn mặt tái mét, mồ hôi ròng ròng, mãi vẫn không nói nổi một lời.

Ta hăm dọa: “Chiếu theo luật, trộm cắp phải chịu năm mươi trượng. Nhưng nếu dính líu trọng tội, bị giải vào ngục, thì chẳng còn là năm mươi trượng nữa đâu!”

Hắn run lẩy bẩy, sau cùng không dám giấu giếm.

Hắn khai: vốn chỉ là kẻ trộm vặt, sau bị một đám cướp truy sát thương nhân Giang Chiết lôi kéo làm tai mắt. Thương nhân kia cẩn trọng, bên người luôn có hộ vệ, bọn cướp bèn chờ lúc người đó vào kinh buôn bán mới ra tay. Quả nhiên thành công, lại ra tay tàn độc giết người diệt khẩu.

Tên kia giúp bọn chúng chôn xác, được chia ít bạc dơ, thấy quan phủ truy tra gắt gao, đành lánh thân lên núi.

Nhưng mấy hôm nay lương khô cạn sạch, hắn đói quá đành mò về thành, không dám tiêu bạc dơ, toan trộm ít bánh ăn lót dạ. Ai ngờ Vương Quý hiểu lầm là Mô Mô trộm, làm ầm lên khiến hắn hoảng hốt, vội vứt bánh trốn tạm.

Ngay khi hắn vừa dứt lời, quan binh từ bốn phương ùa vào, trói hắn mang đi.

Ta lại thấy lạ — sao quan binh đến nhanh thế?

Mô Mô cảm kích nắm tay ta, không ngừng cảm tạ: “A Tằng, cảm ơn ngươi đã cứu ta!”

Ta lắc đầu: “Không cần cảm ơn. Với ta, sự thật quan trọng hơn cả việc cứu người.”

Mô Mô khó hiểu, ta lại trở về chỗ cũ, ngồi xuống, mắt nhìn dòng người qua lại, tai nghe chuyện bốn phương tám hướng.

Ta xoa bụng, xem ra hôm nay lại chẳng xin được miếng ăn nào rồi.

Đúng lúc ấy, có người ngồi xổm trước mặt ta.

Một trung niên ăn mặc bình thường, nhưng khí chất chính trực khó giấu. Ông ta nhìn ta đầy hứng thú.

Ta ngẩng đầu nhìn, đánh giá ông ta: “Bạc dơ bị giấu ở Thập Lý Pha, nơi đó mới có loại đất đỏ như vậy.”

Ông ta mỉm cười: “Ngươi biết thân phận ta à?”

Ta nhìn xuống giày quan của ông, ông lắc đầu cười.

Ta lại nói: “Nếu không có mai phục từ trước, quan binh chẳng thể đến nhanh như vậy.”

Ông ta cười: “Tai ngươi nghe khắp tám phương, mắt nhìn đủ sáu nẻo.”

Ta đáp: “Ngày nào cũng ngồi đây, nghe nhiều, thấy nhiều, thì bụng không dễ đói.”

Ông ta bèn tự giới thiệu: “Ta là Cổ Trường An, Đại Lý Tự khanh. Đang truy vụ thương nhân Trần Quốc Phú mất tích, khó khăn lắm mới bám được tai mắt của bọn cướp. Ngươi lại chỉ dùng một cái bánh mà khiến hắn khai sạch. Vậy cho ta hỏi — ngươi vừa nói, ‘sự thật quan trọng hơn cứu người’, là vì sao?”

Ta tựa người vào tường, xoa cái bụng trống rỗng, đáp: “Nếu không tìm được căn nguyên, thì có cứu người cũng vô ích. Hôm nay cứu được, mai sau thì sao? Cũng chỉ lặp lại mà thôi. Chỉ khi tìm cho ra sự thật, mới có thể nhổ tận gốc, không để kẻ vô tội bị vạ lây.”

Cổ Trường An nhìn ta thật sâu, ánh mắt đầy ý cười.

Ông nhẹ gật đầu, giọng mang theo cám dỗ: “Tiểu tử, ngươi có muốn từ nay về sau không bao giờ phải chịu đói không?”

“Ngươi muốn thu nhận ta?” Ta suy nghĩ rồi lắc đầu,”Nhưng ta chẳng có gì để trao đổi cả.”

Cổ Trường An mỉm cười, chỉ tay vào ngực ta: “Ta chỉ cần một lời hứa, sau này, bất kể đối mặt chuyện gì, cũng phải nhớ rõ hôm nay ngươi từng nói những gì.”

Thế là, ta theo ông trở về Đại Lý Tự, gọi ông một tiếng sư phụ.

Ta chẳng có thiên phú đọc sách, sư phụ đành thôi, ngài đưa ta về, dốc lòng truyền dạy ta cách phá án.

Từng ngày trôi qua, người ta gọi ta là Tằng Tri Hứa.

Sau này nữa, ta là môn sinh thân truyền của Cổ Trường An, là Thiếu khanh của Đại Lý Tự. Có kẻ theo sau ta tâng bốc, có kẻ ở triều trên cáo buộc sư phụ ta tham quyền cố vị, muốn chống lại khoa cử, nâng đỡ môn sinh làm Đại Lý Tự khanh kế nhiệm.

Khi ấy thân thể sư phụ đã suy yếu, nhưng tính tình vẫn cứng cỏi, dứt khoát dâng sớ đập mũ quan trước mặt lão hoàng đế, một trận thành danh.

Sau đó chính là chuyện ai ai cũng biết — ta không qua khoa cử mà ngồi vào vị trí thống lĩnh Đại Lý Tự, trải ba triều, từ tiên hoàng Tề Hàm Chi đến nay là nữ đế Vi Chiêu Y.

Triều đình biến động, người đổi sao dời, nhiều chuyện bị chôn vùi theo thời gian. Người từng chửi rủa ta nay đã yên lặng, những lời cay nghiệt bây giờ cũng chẳng nghĩa lý gì nữa.

Ta vẫn ngồi ở Đại Lý Tự như thường lệ, cho đến một ngày, vụ án tiên hoàng Tề Hàm Chi bị đầu độc như một ngọn núi nặng nề đổ ập xuống.

Thiên hạ đại loạn, lòng người bàng hoàng, chẳng ai dám dòm ngó bí mật hoàng gia, lại càng không dám tra tới chân tướng cái chết của hoàng đế.

Giữa biển dân khóc than, ta đặt tay lên án thư Đại Lý Tự, chợt hiểu vì sao năm xưa sư phụ ta lại muốn ta nói ra lời hứa kia: “Ngươi phải luôn ghi nhớ, chữ ‘Hứa’ trong ‘Tri Hứa’ là lời hứa. Chỉ khi tra cho ra sự thật, mới không để kẻ vô tội bị vạ lây.”

Vì một lời hứa ấy, ta lập quân lệnh, hứa sẽ tra ra chân tướng, cho thiên hạ một câu trả lời.

Không bao lâu sau, ta bắt được hung thủ đầu độc tiên hoàng — chính là Chiêu Nhi.

3

Tiên hoàng băng hà vào một mùa xuân ẩm thấp.

Năm ấy cũng là năm Đại Lý Tự trong ký ức của ta u tối và ẩm ướt nhất.

Trong phòng thẩm vấn của Đại Lý Tự, ánh nến mờ nhạt lay lắt, in bóng dáng của “hung thủ đầu độc tiên hoàng” – Chiêu Nhi, xiêu vẹo nghiêng ngả trên vách tường.

Tóc nàng rối bời, rủ xuống gương mặt tái nhợt; vài lọn tơ mai bị mồ hôi dính chặt trên má, khiến gương mặt vốn linh động kia càng tăng thêm vài phần kiên cường và quyết tuyệt. Trong bầu không khí u ám ấy, vóc người nàng lại càng thêm gầy guộc.

Ta ngồi ngay ngắn sau án, ánh mắt không rời nàng một khắc.

“Chiêu Nhi, tội đầu độc hoàng đế là tội đại nghịch bất đạo.Nếu ngươi chịu thành thật khai ra, biết đâu chừng còn có đường sống.”

Nghe vậy, Chiêu Nhi bật cười lạnh, tiếng cười mang theo sự khinh thường, nàng cúi đầu, dường như không muốn nhìn ta thêm một lần nào nữa.

Nàng nói: “Những gì cần nói ta đã nói rồi, ta vì yêu sinh hận mà hạ độc, một mình làm một mình chịu.”

“Vì yêu sinh hận?” Ta dấn lời, ép sát từng câu từng chữ, “Ngươi theo bên bệ hạ bao năm, khi nào có tình, lại từ khi nào sinh hận?”

Chiêu Nhi cười, cuối cùng cũng ngẩng đầu nhìn ta. Trong ánh mắt ấy, xen lẫn vài phần giễu cợt, lại mang theo một luồng ác liệt: “Tằng đại nhân chỉ e cả đời chưa từng biết mùi vị hoan ái nam nữ, chẳng rõ tình là gì, hận từ đâu. Tình hay hận đều chỉ dựa vào một ý niệm mà sinh, sao có thể rõ ràng phân minh?”

Ánh mắt nàng, cho dù trong lúc này vẫn trong trẻo sáng ngời, nhưng lại khiến ta cảm thấy có chút không khớp với dung mạo kia.

“Thế gian lắm kẻ vì yêu sinh hận, nhưng người như ngươi không nên là một trong số ấy.” Ta dịu giọng khuyên giải: “Chiêu cô nương, bệ hạ một lòng tín nhiệm ngươi, sao ngươi có thể sinh thù sâu đến vậy mà mưu sát ngài? Chẳng lẽ phía sau có kẻ sai khiến, còn ngươi chỉ là con cờ bị người lợi dụng mà thôi?”

Chiêu Nhi nở nụ cười chẳng mảy may che giấu khinh thường: “Lời đại nhân nói ra, là thật tâm suy đoán hay chỉ là lời dụ cung ép khẩu?”

Nàng nhìn ta, ánh mắt lạnh nhạt mà sắc bén: “Ta biết, hoàng đế vừa băng, bao đôi mắt trong thiên hạ đều rình rập chực chờ, chẳng thiếu kẻ mượn gió bẻ măng. Ai ai cũng muốn một đáp án có lợi cho mình. Ta vốn tưởng Đại Lý Tự đại nhân xử sự công chính nghiêm minh, nay xem ra cũng chỉ đến thế mà thôi. Ta đã khai hết, những gì ta làm, ta tự biết rõ.”

Ta hơi nhíu mày, không ngờ động tác khẽ ấy lại khiến nha dịch bên cạnh hiểu sai ý. Hắn lập tức cầm roi da quật mạnh một cái, tiếng gió rít lên, cây roi hung hăng vút xuống thân Chiêu Nhi.

Thân thể nàng lập tức cứng đờ, hai tay siết chặt tay vịn ghế, đốt ngón tay trắng bệch vì dùng .

Nàng đau, nhưng chỉ khẽ rên một tiếng trong cổ họng. Mồ hôi to bằng hạt đậu rơi lã chã nơi trán, vậy mà vẫn không chịu hé miệng cầu xin.

Chiêu Nhi vẫn cười: “Ta đã nhận tội rồi, đại nhân còn dùng hình thẩm vấn, không sợ bị thiên hạ cười chê là bất tài vô dụng sao? À, suýt nữa quên, đại nhân một lòng mưu quyền đấu trí, cũng chẳng quan tâm đến thể diện gì đâu.”

Nàng cố ý châm chọc, để khiến ta giận dữ, rối loạn cục diện.

Ta giơ tay ngăn lại nha dịch muốn tiến lên, đích thân bước đến, nhẹ nhàng cởi dây trói cho nàng.

Chiêu Nhi khẽ run, ánh mắt thoáng lộ vẻ đề phòng, nhưng khi dây thừng buông ra, thân thể nàng vẫn không hề thả lỏng.

Ta đưa nàng một chén trà, dịu giọng nói: “Ngươi không tin ta, ta cũng chẳng hoàn toàn tin ngươi. Nhưng ta biết, trong lòng ngươi giấu bí mật. Nói ra, có khi ta còn giúp được. Ngươi cứ giấu mãi, chẳng những không bảo toàn được người ngươi muốn che chở, mà còn có thể khiến nhiều người vô tội bị liên lụy.”

Trong mắt nàng thoáng hiện vẻ bất ngờ, dừng ánh nhìn trên mặt ta một lát rồi lại cúi đầu, lãnh đạm đáp: “Đa tạ hảo ý của đại nhân, nhưng ta không có gì để nói cả.”

“Ngươi thật nghĩ mình có thể gánh nổi tất cả ư?” Ta khẽ thở dài: “Chiêu cô nương, kỳ thực giữa ta và ngươi, chẳng phải lần đầu gặp mặt. Ba năm trước, tại Túy Tiên Lâu, tiệc mừng thọ của Thị lang bộ Hộ Trương Tĩnh Niên…”

Chiêu Nhi chợt sững người, thần sắc đầy cảnh giác.

Ta tiếp tục nói: “Khi ấy bệ hạ vẫn còn là Thái tử, đã ra oai một phen vang dội.”

Ánh mắt Chiêu Nhi dần hiện vẻ nhớ lại.

Năm ấy, Túy Tiên Lâu trang hoàng rực rỡ, Trương Tĩnh Niên mở tiệc lớn chiêu đãi quyền quý khắp kinh thành, xe ngựa tấp nập, quan khách ăn vận lộng lẫy, cười nói rôm rả.

Sư phụ sai ta đến dự tiệc, giao thiệp cùng quan lại. Tiên hoàng tuổi cao bệnh nặng, Thái tử Tề Hàm Chi bất cứ lúc nào cũng có thể kế vị. Lúc ấy, triều đình phong vân biến đổi, sóng ngầm mãnh liệt.

Mấy công tử phú gia đang nâng chén luận chuyện, kể về đợt lụa thượng hạng vừa vận từ phương Nam, lại nhắc đến chuyện vận chuyển khó khăn khiến không ít người chết dọc đường.

“Thế đã là gì,” Triệu hầu gia nói, “Bên ngoài thành toàn dân chạy nạn từ Tây Bắc, một ngày không biết chết bao nhiêu.”

Tiền đại nhân cảm khái: “Chiến sự chưa định, còn chẳng biết sẽ chết thêm bao nhiêu người.”

Tôn đại nhân cười mập mờ: “Theo hạ quan thấy, trận này nhất định phải đánh.” Hắn hạ thấp giọng: “Giờ trong nước dân lưu vong đông đúc, thuế má trì trệ, dân chúng bất mãn. Nước láng giềng yếu hơn ta, nếu thắng, không chỉ chiếm được đất đai tài nguyên, còn khiến dân chúng kính phục uy võ của hoàng thượng, bất mãn ắt tan.”

Lý công tử cũng the thé tiếp lời: “Phải đó, có chiến tranh, công nghiệp quân sự chắc chắn hưng thịnh, đúng là cơ hội kiếm tiền ngàn năm có một!” Dứt lời, hắn cùng mấy quyền quý bên cạnh trao nhau ánh mắt ngầm hiểu, khóe môi lộ nụ cười gian.

Ngay cả Chu đại nhân vốn nghiêm khắc cũng vuốt râu gật đầu: “Nếu không đánh, nội loạn tất khởi, cơ nghiệp Đại Tề e rằng khó giữ. Dân sinh ra vốn để phụng sự triều đình, hy sinh chút ít cũng là nên làm.”

Đúng lúc ấy, một tiếng chim hót vang lên từ xa.

Mọi người ngạc nhiên nhìn theo, thấy một con vẹt lông sặc sỡ sà xuống đậu trên cành cây, líu lo kêu to: “Quan thương cấu kết, chẳng ngó dân lành, lợi dụng quyền thế, lương tâm vứt sạch!”

Giọng nó sắc nhọn, gây chú ý khắp nơi.

Con vẹt lại gào: “Đánh giặc phát tài, ngàn năm khó gặp, dân khổ mặc dân, miễn giang sơn vững!”

Mặt vài vị quyền quý đỏ bừng.

Lý công tử giận dữ quát: “Con chim hoang nào dám ăn nói bậy bạ nơi này!”

Chu đại nhân trừng mắt: “Ngu xuẩn! Mắng nó nó nghe hiểu chắc?! Còn không mau bắt lại!”

Một đám gia nhân xông lên đuổi bắt, nhưng con vẹt linh hoạt vô cùng, khiến hiện trường rối như tơ vò.

Ta đứng ở không xa, thu hết cảnh ấy vào mắt.

Ta biết con vẹt kia không thể nào xuất hiện ngẫu nhiên. Là ai? Ta quét mắt quanh, chợt nhìn thấy một bóng dáng.

Đó là một nha hoàn mặc áo lam nhạt, da trắng, mặt mũi bình thường.

Nàng cúi đầu, môi vương nụ cười kín đáo, tay giấu trong tay áo, đứng im lặng bên cạnh, như thể chẳng mấy hứng thú với mọi chuyện.

Ta vốn trí nhớ hơn người, tự nhiên nhận ra nàng chính là thị nữ thân cận bên Thái tử Tề Hàm Chi – Chiêu Nhi.

Nói sao nhỉ, khuôn mặt Chiêu Nhi luôn khiến người ta cảm thấy mơ hồ, chỉ có đôi mắt là đặc biệt linh động.

Bỗng, đám đông đột nhiên im lặng, thì ra Thái tử đã đến.

Tề Hàm Chi mặt lạnh như sương, mày nhíu chặt, dường như đang nén cơn giận dữ to lớn. Chúng quan lại thương nhân vội vàng quỳ xuống hành lễ, không ai dám ngẩng đầu, cũng chẳng ai dám lên tiếng.

Trong sự im lặng kỳ lạ ấy, tiếng vẹt lại càng vang dội.

“Quan thương cấu kết, chẳng ngó dân lành, lợi dụng quyền thế, lương tâm vứt sạch!”

“Đánh giặc phát tài, ngàn năm khó gặp, dân khổ mặc dân, miễn giang sơn vững!”

Cuối cùng, Tề Hàm Chi quát lớn: “Chiến tranh nào phải trò đùa?! Chư vị là trọng thần một nước, hưởng vinh hoa phú quý, vậy mà chỉ nghĩ cách đẩy dân chúng ra chiến trường! Các người có hiểu nỗi đau cốt nhục chia lìa, nhà tan cửa nát?! Miệng hô vì triều đình, kỳ thực chỉ vì lợi mình! Đều không xứng làm dân Đại Tề ta!”

Ánh mắt chàng sáng quắc, quét qua từng người một. Bọn quyền quý bị chấn nhiếp, cúi đầu thần phục trước uy thế vị quân chủ tương lai.

Sau đêm đó, danh hiền của Tề Hàm Chi vang khắp thiên hạ, bách tính ca tụng chàng nhân đức, tràn trề hy vọng với quốc vận Đại Tề.

Hào quang ấy đã dần xua tan bóng tối phủ lên tiên hoàng bệnh trọng.

Mà ấn tượng khắc sâu trong ta, lại là đôi mắt thông tuệ và giảo hoạt của Chiêu Nhi đêm đó.

Nàng đứng sau người, chẳng nói một lời, nhưng vị trí ấy lại vừa vặn nhìn rõ toàn cục.

Nay thời thế đổi thay, thị nữ trung thành bên Tề Hàm Chi năm xưa, lại thân tàn ma dại trước mặt ta, gánh trên lưng tội danh giết vua.

Chiêu Nhi cũng dường như lặng trong hồi ức, hồi lâu vẫn không nói lời nào.

Ta nhìn nàng, hỏi: “Năm ấy con vẹt đó là ngươi dạy nói phải không? Ngươi cố ý để bệ hạ nghe thấy đám quyền quý bàn chuyện, khiến người phẫn nộ, mượn đó thể hiện nhân đức, thu phục lòng dân. Ngươi từng bước sắp đặt, đều là vì giúp người vững ngôi cửu ngũ… Tại sao lại giết người?”

Chiêu Nhi hoàn hồn, chẳng đáp mà chỉ nhàn nhạt hỏi lại: “Tội giết vua không thể tha. Tằng đại nhân, khi nào mới phán tội chết cho ta?”

Ta nhíu mày: “Người sống, nên cầu sinh, không nên cầu tử.”

Chiêu Nhi nhấp miệng, cười cười: “Lời này hay đấy, nếu ta có cơ hội đầu thai, ta sẽ nhớ đem theo dùng kiếp sau.”

Nàng cứng đầu như đá, khiến ta không khỏi sinh chút chán nản và bực bội.

Chiêu Nhi nhìn ta, nghiêng đầu cười: “Ta không nên làm khó đại nhân, sinh tử của ta vốn chẳng do đại nhân định đoạt.”

Ta còn định nói, thì bỗng nghe ngoài cửa vang lên tiếng bước chân dồn dập. Người tới là Chu ma ma, tay cầm thánh chỉ.

Tờ ý chỉ chậm rãi mở ra, từng chữ từng câu như định sẵn vận mệnh của Chiêu Nhi:

“Cung tỳ Chiêu Nhi, tâm địa rắn rết, đại nghịch bất đạo. Ả hạ độc hại tân đế, mưu toan điên đảo nền tảng lập quốc, khiến triều đình chấn động, vạn dân kinh hãi. Nay tội ác tày trời, người thần cùng phẫn, quốc pháp khó dung. Chứng cứ rành rành, không thể biện giải. Vì chấn chỉnh kỷ cương, răn đe kẻ khác, đặc phán tử hình. Lập tức áp giải ra pháp trường, hành hình trước thiên hạ.”

4.

Ta trở lại Đại Lý Tự, thì thấy Ứng Tích Triều đang gặm đùi gà trong ngục. Vừa thấy ta đến, nàng ngược lại còn nhiệt tình gọi với: “Trong triều có người quen đúng là tiện lợi, Tằng hồ ly, đa tạ bữa ăn riêng ngươi ban cho đấy.”

Thời gian đổi thay, thật không ngờ trong Đại Lý Tự từng từng xử trảm Ứng Tích Triều năm xưa, nay chúng ta đã có thể chuyện trò như bằng hữu cũ.

Tựa như hết thảy những vụ án hợp tác phá giải cùng nàng từ ngày tái ngộ đến nay, mỗi một lần đều huyễn hoặc như mộng, nhìn thế nào cũng thấy quá đỗi hoang đường.

Nhưng ta biết rõ, mọi chuyện xảy ra đều là thật.

Người đứng trước mắt ta đây chính là “Chiêu nhi” năm nào. Nàng là thật.

Năm ấy, Ứng Tích Triều bị phán tử hình, từ đó mọi việc đã chẳng còn trong tầm kiểm soát của ta. Ta vốn biết cái chết của Tề Hàm Chi có điều uẩn khúc, nhưng đáng lẽ Đại Lý Tự phải tra ra sự thực, rốt cuộc lại bị lốc xoáy quyền đấu trong triều cuốn vào, trở thành một mắt xích chẳng còn trọng yếu.

Ta đã ghi nhớ ánh mắt của Ứng Tích Triều suốt bao năm. Đó là ánh mắt nàng nhìn ta lần cuối trước khi bước lên pháp trường — chẳng còn sự linh động và xảo quyệt xưa kia, đến nay ta cũng chẳng thể phân rõ đó là thản nhiên hay buông xuôi.

Nàng nói: “Tằng đại nhân, thật tiếc vì không thể giúp ngài tìm ra chân tướng. Lần từ biệt này, e là chẳng còn gặp lại.”

Ta tận mắt nhìn nàng bước lên pháp trường, cho đến khi đầu rơi máu chảy.

Ta biết cái chết của Tề Hàm Chi tất có liên quan tới nàng, nhưng liên quan bao nhiêu phần do ý nàng, bao nhiêu phần là bị ép buộc, ta không rõ. Chỉ là trực giác mách bảo ta, người như Ứng Tích Triều sẽ không dễ dàng chết đi như thế.

Nhưng ta cũng không phân được, cái gọi là “trực giác” kia, rốt cuộc là linh cảm, hay là một tia không đành lòng.

Về sau đến vụ án Kiều Mộc Đình, ta chỉ nhìn một lần đã nhận ra đôi mắt từng khiến ta mộng mị bao đêm ấy. Khó lòng phủ nhận, khoảnh khắc đó ta thậm chí có chút mừng vui.

Tất nhiên, sau đó ta tự quy hết thảy cảm xúc ấy là do kiêu ngạo — vì mọi việc đều đúng như ta liệu, người như Ứng Tích Triều làm sao dễ chết.

Thế nhưng quanh đi quẩn lại, nàng rốt cuộc vẫn quay về lao ngục Đại Lý Tự, quay về cái vòng luẩn quẩn số mệnh không ai thoát nổi.

Hôm ấy, ta để nữ đế chọn một trong hai: Xử lý Tích Lương hay Ứng Tích Triều. Đó cũng là ván cược giữa Ứng Tích Triều và Mộ Dung Trung.

Mộ Dung Trung dùng cái chết của Tra Đô để khuấy đảo cục diện giữa Yến quốc và Vi Chu, đúng như ý của y: một vụ án chẳng ai dám tiết lộ chân tướng đã đưa nữ đế vào thế tiến thoái lưỡng nan.

Sau khi nhìn thấu dã tâm của Mộ Dung Trung và mạng lưới quan hệ phức tạp sau lưng y, việc tìm ra Tích Lương với ta không còn là chuyện khó.

Theo lời Tích Lương khai, hắn cho rằng Vi Chiêu Y không xứng làm đế, việc triều chính nên trả lại cho tông thất. Vì thế nghe lời Mộ Dung Trung xúi giục, lợi dụng sự tín nhiệm của Tra Đô mà đầu độc, mong lấy chiến tranh giữa hai nước ép Vi Chiêu Y thoái vị.

Mộ Dung Trung biết ta đã nắm được chân tướng nhưng vẫn không hoảng hốt, bởi y thừa biết: xử trí Tích Lương như thế nào mới là nan đề thực sự.

Trong một mật thất tại thành Trừng Châu do Mộ Dung Trung âm thầm xây dựng, ánh nến lay lắt, bóng sáng nhảy múa trên vách tường đầy âm u quỷ dị.

Mắt y tràn đầy mưu tính, thong thả nói: “Dù các ngươi có tìm được Tích Lương, biết ta sai hắn giết Tra Đô thì sao? Nay chiến sự giữa hai nước vừa lắng, nếu giờ các ngươi công khai chuyện người Vi Chu sát hại thái tử Yến quốc, khiến chiến hỏa bùng lên lần nữa, vậy các ngươi chính là tội nhân thiên cổ.”

Rồi hắn quay sang Ứng Tích Triều: “Chiêu nhi, năm đó bà ta lợi dụng ngươi, trở mặt lập tức đẩy ngươi vào chỗ chết, ngươi vì ả mà liều mạng, rốt cuộc được gì?”

Ứng Tích Triều cười khinh miệt, trong mắt toàn là trào phúng: “Giờ là ta đang ở thế hạ phong, nhưng ngươi, Mộ Dung Trung, cũng chưa chiếm được lợi lộc gì đâu. Cắt đầu bỏ đuôi kể chuyện thì ai chẳng biết, nếu ta khiến Yến đế tin rằng chính ngươi là người vì nước, ẩn nhẫn thiết kế mưu sát Tra Đô từ lâu, ngươi xem còn cơ hội nào đổi chủ nữa không?”

Ánh mắt Mộ Dung Trung thoáng thêm phần độc ác.

Ứng Tích Triều chẳng thèm để ý, hỏi: “Đã thế cục đối với cả hai ta đều bất lợi, chi bằng đánh một canh bạc, ngươi dám không?”

Mộ Dung Trung lạnh lùng cười: “Thân ngươi khó giữ còn mơ tính toán hử? Muốn cược gì?”

Ứng Tích Triều đáp: “Cược xem bệ hạ sẽ chọn công bố chân tướng Tích Lương hạ độc Tra Đô để giữ lấy ngôi vị, hay sẽ vì đại cục mà nhận tội mưu sát tiên đế về phía ta, rồi đem ta ra tế cờ.”

Ta vô thức nhìn nàng, định mở miệng, nhưng Ứng Tích Triều chỉ nhẹ lắc đầu ra hiệu ta đừng nói.

Ta siết chặt nắm tay, tôn trọng mọi quyết định của nàng.

Mộ Dung Trung khó tin: “Ngươi điên rồi? Ngươi biết cái giá phải trả là gì không?”

Ứng Tích Triều làm như không nghe thấy, tiếp lời: “Nếu Hoàng thượng chọn công khai Tích Lương, nghĩa là lấy thiên hạ làm trọng, ta thua. Đến khi đó, ngươi thắng, ta sẽ nói cho ngươi biết hết mọi bí mật liên quan đến tiên hoàng. Còn nếu ngài chọn hy sinh ta, vậy ta thắng.”

Mộ Dung Trung bật cười: “Dù ngươi thắng, đến lúc đó ngươi cũng chết rồi, ngươi không thấy lỗ à?”

“Nói nhảm gì, đánh hay không thì nói một lời.”

“Được. Nếu ngươi thắng, muốn gì?”

…

Ứng Tích Triều vẫy tay trước mắt ta: “Tằng hồ ly, ngẩn người cái gì thế?”

Ta thu hồi thần trí, nhìn nàng, muôn phần cảm xúc đan xen, trong khoảnh khắc chẳng biết nên đáp thế nào với lời đùa kia.

Ngày ấy, nữ đế không đưa ra quyết định ngay. Người lệnh ta tạm đưa cả Tích Lương và Ứng Tích Triều về Đại Lý Tự, canh phòng cẩn mật, tuyệt đối không để rò rỉ tin tức.

Thời gian chờ đợi càng dài, lòng người càng nôn nóng vì chẳng biết kết cục của nhân vật chính sẽ ra sao.

Ứng Tích Triều tựa hồ đã nhìn ra sự khác lạ của ta, đặt đùi gà xuống, tay áo lau qua loa, rồi nói: “Nhìn ngươi mặt mày ủ rũ thế kia, chẳng lẽ tiếc vì cho ta bữa ăn ngon sao?” Nàng nói đùa, ánh mắt lại chăm chú dò xét.

Ta hít sâu một hơi, trấn định tâm thần: “Chỉ là nghĩ đến canh bạc giữa ngươi và Mộ Dung Trung.”

Ứng Tích Triều chớp mắt, lại hiện vẻ tinh ranh như xưa. Nàng nghiêng đầu, cười cợt: “Ồ, ra là đang lo cho ta?”

Ta trầm giọng: “Phải, ta lo cho ngươi.”

Ứng Tích Triều thoáng sững người, lúng túng đưa tay gãi má, cười gượng hai tiếng: “Thật, thật là trời đổ mưa máu rồi… ngươi mà cũng biết lo cho người khác cơ đấy…”

Ta nắm lấy cổ tay nàng, dùng chút sức, nghiêm túc hỏi: “Ứng Tích Triều, hãy nói cho ta biết, năm đó rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì?”

Ứng Tích Triều trầm mặc một thoáng, khẽ cười: “Sao vậy, ngươi muốn chuẩn bị trước để biện giải cho ta à?”

Ta không buông tay, đáp:

“Sư phụ từng bảo ta, đừng quên lý do người chọn ta làm Đại Lý Tự khanh. Người nói: ‘Kẻ trong triều, ai nấy đều có lập trường, tranh đấu vì quyền và lợi không bao giờ dứt. Chỉ có Đại Lý Tự, mới có thể giữ lấy chính đạo, không bị thế lực nào thao túng.’ Bao năm nay, ta vẫn tự hỏi: Thế nào là chính đạo?”

“Sự đời đâu thể dùng trắng đen phải trái mà phân định, mà lòng người cũng có mấy ai thật tâm truy cầu sự thực? Thứ họ muốn là những gì kích thích, kịch tính, phân rõ thiện ác, có lợi cho hiện tại và tương lai, đó là ‘chân tướng’ họ muốn, nhưng lại chẳng phải sự thật. Ta từng nghĩ việc phá án là để khôi phục sự thật, không phải cứu người. Nhưng cũng vì thế…

“Ứng Tích Triều, nếu ngươi thật sự phạm pháp, thì nên để pháp luật định đoạt sống chết. Ta không thể khoanh tay nhìn ngươi trở thành con cờ trong trò quyền đấu, hoặc là vật hi sinh. Như vậy không đáng.”

Ứng Tích Triều ngẩn người giây lát, rồi nhoẻn cười: “Tằng hồ ly, cảm ơn ngươi.”

Ta không rõ nàng có nghe hiểu lời ta hay không, định nói thêm, nhưng Ứng Tích Triều đã nắm tay ta.

Đầu ngón tay nàng chai sạn vì trăm đắng nghìn cay, mà lòng bàn tay lại ấm áp khác thường.

Lần này, đến lượt ta nghẹn lời.

Ứng Tích Triều đứng dậy, bước đến bên cửa sổ, nhìn sắc trời âm u ngoài kia: “Ta sẽ nói. Nhưng không phải bây giờ.”

Ta khép mắt, chỉ đành cùng nàng đứng bên cửa sổ, nói: “Nếu ngươi đã quyết, ta tôn trọng. Dù sống hay chết, ta cũng cùng ngươi đối mặt.”

Ứng Tích Triều khẽ há miệng, muốn nói gì đó, nhưng cuối cùng chỉ quay đầu, không lên tiếng nữa.

Đó không giống phong thái của nàng. Ta ngạc nhiên ngắm nàng, chợt thấy đôi tai nàng nhuốm sắc ửng hồng.

Ta hỏi: “Sao tai ngươi đỏ thế?”

Ứng Tích Triều liếc ta một cái: “Nóng.”

Bên ngoài, tiếng sấm rền vang trời, rồi cơn mưa như trút bất chợt đổ xuống, dội hai chúng ta ướt lạnh tận tâm can.

Ta sờ giọt nước mưa trên mặt, lòng thầm nghĩ — nóng? Nóng chỗ nào?

Cơn mưa rơi mãi không dứt, ta và Ứng Tích Triều cùng đứng dưới mưa, hiếm hoi được giây phút bình yên, tạm quên đi hiểm nguy trước mắt cùng sự vô tình của thời gian.

Cho đến khi có tiếng bước chân vang lên, từ xa mà gần.

Chu ma ma dẫn vài nội thị đến, nói với ta: “Bệ hạ có chỉ, lệnh Tằng đại nhân lập tức dẫn hai phạm nhân lên đường đến núi Lăng Tiêu, chuẩn bị cho đại lễ phong thiện.”

5

Trên đường đến núi Lăng Tiêu, dân gian đang xôn xao bàn luận về những điềm lành gần đây.

Mọi chuyện bắt đầu từ trận mưa hôm ấy.

Ấy vốn là một trận mưa không có gì đặc biệt, nhưng bách tính kinh ngạc phát hiện, mưa ấy nước trong như ngọc, hương vị lại ngọt lành. Một thửa đất hoang ở phía đông thành, nhờ mưa ấy tưới xuống, chỉ qua một đêm liền nảy mầm đâm chồi, nở đầy hoa tươi.

Tin “trời ban cam lộ” cứ thế mà truyền đi không kịp ngăn.

Chẳng bao lâu, từ vùng sông Lạc cũng truyền đến tin tức: có bá tánh phát hiện một phiến đá bên bờ sông, bên trên khắc đầy những ký hiệu thần bí.

Các đại nho học vấn uyên bác sau nhiều ngày đêm giải mã không ngừng nghỉ, luận rằng đây chính là “Lạc thư” trong truyền thuyết thượng cổ, đó là đạo lý của trời đất, biểu tượng của trật tự và phồn vinh — nay lại hiện thế.

Bá tánh rần rần truyền miệng rằng: trời giáng cam lộ là phúc lành do thiên mệnh ban xuống, tượng trưng cho minh quân chấp chính, quốc thái dân an; còn Lạc thư tái hiện chính là dấu hiệu thiên đạo thuận hòa, quân chủ thuận theo thiên ý, sẽ đem đến cục diện thái bình lâu dài cho xã tắc.

Mà lúc này, mấy hàng chữ trong Lạc thư do mấy chục vị đại nho phiên dịch mấy ngày đêm không nghỉ cũng đã được giải ra:

“Hoàng điểu đề sào trình thiên ý, bạch yến hàm thư tụng thế ninh.”

*Chim vàng hót trên tổ là điềm lành bày tỏ ý trời, yến trắng ngậm thư ca tụng sự thái bình của thế gian.

Lập tức, dân gian thi nhau nghị luận hai câu ấy, ai nấy đều cố gắng suy đoán hàm nghĩa phía sau.

Có người bèn nhắc lại chuyện gà mái gáy lúc trước, cho rằng ấy không phải là điềm hung “gà mái gáy sớm”, mà là ứng vào “Hoàng điểu đề sào”, chính là cát tượng, họ càng nói càng chắc mẩm rằng sắp tới sẽ còn có điềm lành lớn hơn nữa hiện thế.

Thái độ của dân chúng dần dần lay chuyển, chẳng còn xem nữ đế là yêu nghiệt tai họa nữa, mà nghĩ biết đâu ngài chính là người được trời ban mệnh.

Song rất nhanh, lại có tin đồn mới nổi lên nói rằng kẻ hạ độc hại chết Tề Hàm Chi năm xưa là Chiêu Nhi kỳ thực chưa chết, mà bị nữ đế giấu đi. Nữ đế lại yếu thê một lần nữa.

Chỉ trong chớp mắt, lời bàn tán ủng hộ hay phản đối như gươm giáo giao tranh, lời ra tiếng vào không dứt như dầu sôi đổ vào lửa dữ, chỉ sợ ngay giây tiếp theo sẽ bùng cháy ngút trời, lan ra cả thiên hạ.

Ta và Ứng Tích Triều nhanh chóng nhìn ra ẩn ý sau làn sóng dư luận ấy.

“Trời giáng cam lộ” và “Lạc thư hiện thế”, rõ ràng là thủ đoạn của Vi Chiêu Y để đối phó với lời nguyền “gà mái gáy sớm”, gọi là “lấy điềm chế điềm”.

Kẻ hữu tâm đã có thể xúi giục dân chúng reo rắc điều “bất thường”, vậy Vi Chiêu Y tự nhiên cũng có thể tạo ra điềm lành để phản công. Chung quy vẫn là xem ai biết kể chuyện, ai có thể chuyển xoay lòng người.

Lễ phong thiện trên núi Lăng Tiêu, phần nhiều cũng là nhằm vào việc này.

Chỉ có điều, kẻ đứng sau rõ ràng không cam lòng để cục diện bị Vi Chiêu Y xoay chuyển, mới tung ra con bài sát thủ là lời đồn Chiêu Nhi chưa chết, hòng giành lại quyền chủ động trong dư luận.

“Xem ra Mộ Dung Trung không chờ nổi nữa rồi,” ta nói, “Người có thể tung ra tin đồn rành rọt rằng Chiêu Nhi chưa chết, đang nằm trong tay nữ đế, chẳng ngoài Mộ Dung Trung và bè đảng của Vinh vương.”

Ứng Tích Triều bật cười giễu cợt: “Trung tín lương thiện, haha một chữ cũng chẳng có thật.”

Ta nói: “Chỉ e lời hắn đồng ý đánh cược với ngươi là giả, thật ra là muốn nhân đó bức bệ hạ vào đường cùng. Hắn đang gây áp lực, ép bệ hạ trong cơn hoảng hốt vì bị nghi ngờ giết con mà phải vội vã rũ bỏ trách nhiệm, đành phải đem Tích Lương ra làm vật hy sinh.”

Ứng Tích Triều cười khẽ: “Bọn họ chẳng quan tâm chiến sự có nổ ra hay không, họ chỉ cần chứng minh rằng chính bệ hạ gây ra chiến sự, như vậy là có thể khiến ngài mang tội thiên cổ.”

Ngựa trắng hí vang, xe ngựa dừng lại. Ta vén rèm xe nhìn ra, thì ra đã đến chân núi Lăng Tiêu.

Trái ngược với dân gian sục sôi, nơi núi Lăng Tiêu lại là một mảnh yên tĩnh trang nghiêm.

Cả ngọn núi được trang hoàng trang trọng: từ chân núi đến đỉnh núi đều phấp phới cờ lụa ngũ sắc, hương khói lượn lờ. Trên đỉnh núi, một đàn tế lớn sừng sững chễm chệ, đàn tế bày đầy phẩm vật thịnh soạn, xung quanh đứng kín bá quan văn võ và thị vệ vận lễ phục trang nghiêm.

Hôm nay, chính là ngày phong thiện.

Ta nhìn về phía Ứng Tích Triều, hỏi: “Hôm nay bất kể bệ hạ lựa chọn thế nào, chỉ e tình cảnh của ngươi đều hung nhiều cát ít.”

Ứng Tích Triều ừ một tiếng, nghiêng đầu cười hỏi ta: “Sao nào, chẳng lẽ bây giờ ngươi muốn lui bước? Đáng tiếc, đáng tiếc, bên ngoài chẳng có trống lùi cho Tằng đại nhân ngươi thi triển đâu.”

Ta lắc đầu: “Xả thân theo quân tử, không nói nhiều lời thừa.”

Ứng Tích Triều không nhịn được cười, nàng nhìn về phía ngọn núi sừng sững, trong đáy mắt là vẻ trang nghiêm chưa từng có.

“Tằng Tri Hứa…” Ứng Tích Triều khẽ gọi tên ta.

“Ta đây.”

“Nếu hôm nay ta thật sự chết tại đây, cũng không có gì đáng tiếc…” Ứng Tích Triều ngừng lại một lát, rồi nói: “Bởi vì… khoảng thời gian ở bên ngươi gần đây, ta rất vui.”

Trong lòng ta như núi đổ ầm ầm, sau cơn nghẹn ngào lâu dài, trong lồng ngực chỉ còn lại vị chua xót bất cam.

Ánh dương rọi xuống, đại lễ bắt đầu.

Vi Chiêu Y thân khoác hoàng bào rực rỡ, đầu đội mũ miện mười hai tua ngọc, dưới sự vây quanh của tất cả mọi người, bà từ từ bước lên đàn tế trời. Dáng đi thẳng tắp, từng bước trầm ổn hữu lực, tỏ rõ uy nghiêm của đế vương.

Dưới đàn, văn võ bá quan chỉnh tề xếp hàng; dân chúng được phép dự lễ thì quỳ bái ở phía xa hơn.

Đứng vững tại chính giữa đàn tế, Vi Chiêu Y hít sâu một hơi, ánh mắt trở nên thành kính khác thường.

Bà chậm rãi đưa tay đón lấy ngọc điệp mà thị tùng dâng lên, hai tay nâng cao khỏi đầu, ngọc điệp dưới ánh dương lấp lánh ánh sáng dịu dàng. Bà ngẩng đầu nhìn lên trời cao, trầm giọng vang dội giữa sơn cốc:

“Trời đất chư thần trên cao, trẫm lấy thân phận quân chủ, cử hành đại lễ phong thiện, cầu xin phù hộ cho triều đình ta.

“Nguyện trời cao ban cho một năm tốt lành, gió thuận mưa hòa, muôn dân ấm no vô ưu; nguyện tai ương xa rời, dịch bệnh không xâm, vạn dân an khang hưởng phúc; nguyện chư thần đồng tâm, công chính liêm minh, cửu lệnh suôn sẻ, ân trạch phủ khắp; nguyện biên cương yên ổn, ngoại địch không dấy, nước ta danh tiếng vang xa, thiên hạ chung hưởng thái bình.

“Trẫm lập thệ tại đây: nếu trái với lời nguyện, cam nguyện chịu hình phạt của thần linh. Cầu trời đất chư thần từ bi, phù hộ cho quốc gia ta quốc thái dân an, giang sơn vững bền, vạn đại hưng thịnh.”

Vi Chiêu Y nhẹ nhàng hạ ngọc điệp xuống, chỉnh lại long bào, rồi chậm rãi cúi mình hành đại lễ ba quỳ chín lạy.

Động tác của bà trang trọng, từng lần dập đầu đều tràn đầy kính ý với trời đất. Khi đứng dậy, lưng bà hơi ưỡn thẳng, ánh mắt kiên định tự tin, như đang gánh vác sơn hà xã tắc.

Ngay khoảnh khắc ấy, từ trời cao bỗng vang lên tiếng chim hót trong vắt.

Mọi người ngoảnh đầu nhìn, chỉ thấy một con yến trắng như tuyết, ngậm một cuộn lụa vàng sáng, đang bay về phía đàn tế của lễ phong thiện.

Dưới ánh mặt trời, thân thể nó tỏa ra quầng sáng thần thánh, như một sứ giả thiên giới giáng trần.

Yến trắng nhẹ nhàng đậu xuống đàn tế, cúi đầu từ ái nhìn Vi Chiêu Y.

Yến trắng mở mỏ, cuộn lụa vàng rơi xuống từ không trung, rơi gọn vào tay Vi Chiêu Y.

“Đó là bạch yến hàm thư!” Có người trong đám đông hô vang: “Bạch yến hàm thư tụng thế ninh! Bạch yến hàm thư tụng thế ninh!”

Vi Chiêu Y tay nắm dải lụa vàng, đối mặt với thần dân của mình, dõng dạc tuyên bố: “Hôm nay trẫm cử hành lễ phong thiện tại Lăng Tiêu là để tế cáo trời đất, cầu cho quốc thái dân an. Bạch yến hàm thư, điềm lành đã hiện, trẫm càng nên thuận theo thiên mệnh, tạo phúc cho lê dân. Người đâu! Soạn chiếu!”

Ngự sử Hàn Lâm Viện lập tức bước lên, theo lời nữ đế mà viết nhanh như gió: “Thứ nhất, giảm tô miễn phu dịch. Giảm năm thành thuế ruộng, bỏ chế độ thu theo đầu người, chuyển sang tính theo sản nghiệp. Mỗi năm thu hai lần vào mùa hạ và mùa thu. Nam tử thành niên giảm thời gian lao dịch từ hai tháng còn một tháng. Cấm điều động lao dịch vào vụ mùa. Lập chức ‘Nông quan’, ai trong dân gian có tài năng và nguyện vọng đều có thể tự tiến cử, không phân xuất thân. Nông quan có nhiệm vụ nâng cao hiệu suất canh tác, triều đình sẽ thưởng tiền gạo dựa theo sản lượng tăng trưởng.

“Thứ hai, bỏ thương thuế, bỏ trạm kiểm soát. Hễ là thương nhân có năng lực và chí hướng, có thể tiến hành ngoại thương. Bất kể là xuất khẩu sản vật của bản triều hay nhập khẩu dị bảo, kỹ thuật ngoại bang, đều sẽ được triều đình thưởng tương ứng theo doanh thu.

“Thứ ba, chấn hưng quan học, tư học. Sĩ tử thiên hạ đều nên có cơ hội học hành. Tuyển chọn nhân tài không gò bó theo lệ cũ. Ai giỏi thiên văn lịch pháp, tinh thông thủy lợi, chỉ cần có tài, đều có thể vào triều tạo phúc cho bá tánh.

“Thứ tư, nghiêm chỉnh khoa cử và thuyên tuyển quan lại. Khoa cử là gốc chọn người của quốc gia, thuyên tuyển là then chốt dùng người của triều đình, không thể để nạn mua quan bán chức lộng hành. Từ nay về sau, mỗi trường thi khoa cử phải có ít nhất ba giám khảo đến từ các chức vụ khác nhau, để giám sát lẫn nhau. Mọi văn thư bổ nhiệm quan viên đều phải ghi rõ người tiến cử, lý lịch, quá trình khảo hạch, lưu hồ sơ. Lại bộ hằng năm phải xét lại các vụ thuyên tuyển đã qua, nếu phát hiện có hành vi nhận hối lộ, tư tình dẫn đến sai lầm trong tuyển chọn, người tiến cử và đương sự đều bị cách chức điều tra, nghiêm trọng thì lưu đàyngàn dặm. Thiết lập con đường tố cáo, bất kỳ ai cũng có quyền tố cáo hành vi gian lận, nếu xác minh là thực, người tố cáo sẽ được trọng thưởng để khuyến khích chính khí, khôi phục sự thanh liêm cho khoa cử và thuyên tuyển.”

Vi Chiêu Y ngừng một chút, rồi lại lên tiếng:

“Thiên hạ chẳng phải của riêng Trẫm. Nếu không có trăm họ, thiên hạ chỉ như cây không rễ, thuyền không nước, dẫu có non sông kỳ vĩ, cũng chỉ là nơi hoang vu lạnh lẽo. Trẫm đã ngồi trên ngai vị, ắt phải trừ gian nịnh, ổn xã tắc, khiến quốc vận hưng thịnh, bốn bể hướng tâm!”

Lần này, bách tính dưới đài đồng loạt quỳ xuống, tâm phục khẩu phục hô vạn tuế vang rền.

Ta nhìn cảnh tượng trước mắt, trong lòng dâng lên một tia phức tạp.

Ta hiểu rõ, cái gọi là “bạch yến hàm thư” kỳ thực cũng là do nữ đế an bài từ trước, những chính sách kia, hẳn ngài đã sớm muốn thi hành.

Xét cho cùng, cái gọi là “gà mái gáy sớm”, cái gọi là “điềm lành yến trắng”, chỉ là màn náo nhiệt để thu hút ánh nhìn. Điều thật sự khiến dân chúng tâm phục khẩu phục, vẫn luôn là chính sự ban ơn thực tế đến dân.

Vi Chiêu Y nhìn thấu điểm này từ lâu, mới cố ý chọn núi Lăng Tiêu để phong thiện.

Phong thiện là giả, công bố tân chính giữa muôn dân mới là thật. Đây là thời cơ do chính tay bà tạo ra — trước mặt bá quan và bách tính, không ai còn dám cản trở; mà bách tính lại càng cảm niệm ân đức của nữ đế, dâng lên lòng trung thuận.

Danh chính ngôn thuận.

Ấy chính là thủ đoạn của nữ đế, bà có trí tuệ, càng có khí phách.

Vi Chiêu Y lại nói:

“Trẫm biết gần đây dân gian lưu truyền không ít dị ngôn. Nếu không đích thân đính chính, thiên hạ khó mà yên lòng. Hôm nay, Trẫm sẽ đối trước thiên địa thần minh, cho trăm họ một lời giải thích. Truyền người…”

Thanh âm của nàng vang vọng khắp sơn cốc, khí thế lẫm liệt, khiến lòng người chấn động, tất cả đều nín thở chờ đợi.

“Dẫn tội nhân —— Tạ Lương!”

Ta quay sang nhìn Ứng Tích Triều, nàng vẫn bình tĩnh như cũ, không lộ chút vui mừng thoát nạn, cũng chẳng có gì là tiếc nuối vì thất bại thảm hại.

6.

Khi Tích Lương bị áp giải đến, sắc mặt tái nhợt, hai mắt vô thần.

Vi Chiêu Y nhìn hắn, cất giọng lạnh lẽo: “Tích Lương là con dân nước Vi Chu ta, vậy mà gần đây bị Đại Lý Tự tra ra, chính là hung thủ thật sự đã đầu độc thái tử Tra Đô của Yến quốc.”

Lời vừa dứt, bách tính chưa rõ chân tướng xôn xao rúng động. Còn những triều thần vừa rồi bị trấn áp nghiêm ngặt, lại âm thầm cười lạnh trong bụng. Dù nữ đế lúc trước có quyết đoán hiển hách đến đâu, cuối cùng vẫn đưa ra lựa chọn giống như họ dự liệu.

Vi Chiêu Y chẳng hề để tâm, tiếp tục truy vấn: “Tích Lương, ngươi tuy tật ở chân trái mà không thể nhập triều làm quan, nhưng trẫm nghe nói ngươi nhiều năm nay nguyện làm môn sinh thế tộc, tận tâm tận lực, báo đáp quốc ân. Trẫm không tin ngươi lại phạm phải đại tội tày trời như thế. Nói cho trẫm biết, người là do ngươi giết sao?”

Tích Lương há miệng, đáp: “Phải… là do ta giết.”

Song chưa dứt lời, hắn lập tức chuyển giọng, gấp gáp nói: “Nhưng ta cũng là bị người khác sai khiến, mới lầm đường lạc lối!”

Vi Chiêu Y thản nhiên: “Ai sai khiến ngươi?”

“Là… là Mộ Dung Trung.” Tích Lương dừng lại một chút, rồi nói thêm: “Còn có… còn có…”

Nói đến đây, hắn bất giác đưa mắt nhìn về phía dưới đài. Trong đám vương hầu đại thần từng dính líu đến việc này, bất luận chức vị cao hay thấp, kẻ thì giận dữ trợn mắt, hận không thể lột da róc xương hắn; kẻ thì thu người co rúm, chỉ mong hóa thành hư không mà biến mất khỏi chốn này.

Cũng có người chính trực vô tư, trong mắt chẳng dung nổi cát bụi. Như đại nhân Lương Toản lúc này liền bước lên một bước, lớn tiếng quát: “Tích Lương! Ngươi dám cấu kết phản tặc Mộ Dung Trung, châm ngòi tranh chấp lưỡng quốc, ấy là tội phản quốc, thật là tội ác tày trời! Còn có ai là đồng đảng của ngươi, mau khai ra!”

Bị Lương đại nhân quát một tiếng, đám vương hầu vốn đã chột dạ liền rối loạn hàng ngũ. Có kẻ không trụ nổi, đã bước lên tấu thẳng Vi Chiêu Y, xin lập tức trị tội Tích Lương – kẻ tâm thuật bất chính, dối trá mê hoặc lòng người.

Vi Chiêu Y vẫn một mực lặng thinh, như thể đã quyết ý giao toàn bộ vở kịch này cho bọn họ tự diễn.

Ngược lại là Tích Lương, lặng lẽ nhìn đám kẻ sĩ đang nhốn nháo phía trước, thần sắc dần từ khó tin hóa thành châm biếm thê lương.

Hắn bật cười, tiếng cười sắc nhọn quỷ dị vô cùng chói tai, khiến toàn trường im bặt.

“Ta, Tích Lương ta một lòng vì nước, tự cho mình là người muốn chỉnh đốn càn khôn, khôi phục quy củ tổ tông, đưa thiên hạ trở về chính đạo, nhưng nay xem ra, chẳng qua chỉ là một trò hề.”

Ánh mắt hắn quét qua đám triều thần đang hoặc phẫn nộ hoặc hốt hoảng, tràn đầy mỉa mai: “Ta và những kẻ ngoài miệng rao giảng nhân nghĩa đạo đức, kỳ thực chỉ vì tư lợi bản thân mà cấu kết ngoại địch, chẳng màng sinh linh, cũng chẳng có khác biệt gì. Tích Lương, ngươi thật quá đỗi ngu si.”

Triều thần bị hắn nói đến tím tái cả mặt mày, song lúc này, Tích Lương sắp tiết lộ chân tướng trước bàn dân thiên hạ, không ai dám mạo hiểm nhảy ra cắt ngang để lửa cháy lan sang mình.

Vi Chiêu Y vẫn điềm nhiên bình thản, ánh mắt như đuốc, nhìn thẳng vào Tích Lương, từ tốn dẫn dắt: “Tích Lương, ngươi đã nhận tội, lại chỉ điểm kẻ khác, nếu có nửa lời gian dối mang tội khi quân, ngươi có gánh nổi chăng?”

Tích Lương thẳng lưng, dõng dạc: “Ta tự biết chẳng còn sống đươc bao lâu, giấu giếm làm gì cơ chứ? Mộ Dung Trung sớm đã qua lại mật thiết với nhiều đại nhân trong triều. Mục đích của bọn họ là ép bệ hạ thoái vị. Lời đồn ‘gà mái gáy sớm’ chính là do bọn họ tung ra!”

Lời này vừa dứt, quần chúng lại một phen náo động.

Bách tính dưới đài bàn tán rôm rả, kinh hãi trước những gì đang xảy ra nơi triều đình.

Tích Lương hít sâu một hơi, định nói tiếp: “Bọn họ chính là…”

Bỗng, một mũi tên lạnh xuyên gió lao đến, xuyên thẳng ngực Tích Lương. Hắn ngã xuống đất, chết không nhắm mắt, đôi mắt trợn trừng nhìn Vi Chiêu Y, những lời chưa kịp nói vĩnh viễn bị chôn vùi nơi cổ họng.

Vệ binh lập tức vây quanh hộ giá, song Vi Chiêu Y chẳng hề hoảng loạn chút nào.

Những đại thần vốn đã chột dạ đều chết lặng. Thoạt đầu vì Tích Lương chết mà thở phào nhẹ nhõm, nhưng liền sau đó lại nơm nớp lo sợ, đoán xem là ai đã ra tay đúng lúc như thế, giết người diệt khẩu.

Bọn họ chỉ còn biết hô vang “hộ giá”, vờ như trung thành tận tụy, nhằm tự bảo toàn bản thân.

Ta và Ứng Tích Triều liếc nhìn nhau, đồng thời phát giác điểm bất thường – Tích Lương thay đổi thái độ quá nhanh.

Khi ta bắt được hắn, hắn vốn đã cùng Mộ Dung Trung ăn ý từ trước, không hề kinh hoảng, thậm chí còn mong được giải về kinh. Loại phạm nhân như vậy ta đã gặp không ít – bọn họ có tín ngưỡng cuồng nhiệt, không sợ cái chết, chỉ chờ một cơ hội khiến mình lưu danh sử sách.

Ta tin rằng, Tích Lương nhất định đã sớm chuẩn bị bài nói, định giữa văn võ bá quan và bách tính mà chất vấn Vi Chiêu Y, thậm chí còn toan lấy máu mình nhuộm đỏ ngai vị nữ đế, khiến bà thân bại danh liệt.

Dù thế nào, hắn cũng không nên có phản ứng như vừa rồi, đó là kiểu thất bại hoàn toàn, tỉnh ngộ hoàn toàn.

Ứng Tích Triều khẽ nói: “Do bệ hạ thay đổi hắn.”

Ta tán đồng.

Việc Vi Chiêu Y muốn gặp riêng Tích Lương là điều dễ như trở bàn tay. Từ khi nữ đế bảo ta tạm thời tống giam hắn, hẳn bà đã có dự tính. Bà công phá lòng hắn trước, rồi dùng những thành quả trị quốc thực tế mà đánh sập lý tưởng hắn hằng kiêu hãnh.

Chỉ cần Tích Lương còn có chút chí nguyện vì nước, thì vừa rồi nghe tuyên đọc tân chính, hắn ắt đã rõ, đó là những điều thiết thực mang lại phúc lợi cho dân. Hành động của Vi Chiêu Y đủ chứng minh năng lực của bản thân.

Buổi tế thiên phong thiện nơi núi Lăng Tiêu này, là vở diễn dành cho bách tính xem, cũng là dành cho Tích Lương xem.

Nữ đế cố ý giữ hắn sống đến hôm nay, để hắn tự mình vạch trần âm mưu cùng bè đảng Mộ Dung Trung trước toàn bá tánh.

Thời cơ này rất có lợi cho Vi Chiêu Y, song lại là tai họa cho bè đảng Vinh Vương – đúng vào lúc nữ đế vừa công bố tân chính cứu dân, lại có một nhóm đại thần bất chấp đại cục, chỉ mưu kéo nữ hoàng xuống ngựa. Nhìn xem, hành vi ấy chẳng phải là ngu xuẩn và nhỏ mọn hay sao?

Như vậy, chỉ cần còn ai biết lo cho đại cục, dù từng nghi ngờ ngôi vị của nữ đế, lần này cũng sẽ nghiêng về phía bà.

Đó mới là điều Vi Chiêu Y muốn. Bà chưa từng để tâm đến những kẻ phản đối mình mà dùng chính quyền thế và lợi ích trấn áp bọn họ, đồng thời lôi kéo những kẻ trung lập còn đang do dự.

Ta nói: “Mũi tên giết Tích Lương là do bệ hạ hạ lệnh. Nếu để hắn nêu đích danh các quan sĩ thế tộc, sẽ khiến triều đình rung chuyển, xã tắc bất ổn, Yến quốc càng thêm cớ mà thừa cơ xâm phạm. Nhưng để hắn nói nửa chừng rồi chết, mang theo bí mật chưa kịp tiết lộ mà xuống mồ, mới có thể khiến những kẻ mưu phản kia sống trong thấp thỏm, như có thanh kiếm treo trên đầu.

“Bọn họ nhất định cũng cảm thấy lạ lùng vì Tích Lương đột ngột thay lòng, từ đó nghi ngờ – liệu có phải hắn đã bị bệ hạ thuyết phục, và danh sách đồng đảng đã bị hắn khai báo từ trước hay không? Bọn họ càng nghi, lòng càng loạn, bệ hạ càng dễ kiểm soát họ về sau.”

Ứng Tích Triều thấp giọng nói: “Mọi người đều tưởng nàng chỉ có hai lựa chọn, nhưng thực ra, ngay từ đầu, hai lựa chọn ấy chưa từng lọt vào mắt ngài. Tích Lương đổ tội cho Mộ Dung Trung, Yến quốc không thể lấy một tên phản tặc làm cớ mà công kích Vi Chu; trái lại, bệ hạ còn nắm được bằng chứng Yến quốc can thiệp nội chính Vi Chu, có thể xuất binh danh chính ngôn thuận bất cứ lúc nào, khiến cho Yến quốc không dám hành động thiếu suy nghĩ.”

Ứng Tích Triều cười khẽ, cảm khái: “Bọn họ vẫn chưa hiểu, nếu Vi Chiêu Y thực sự dễ bị đánh bại như thế, thì thuở ban đầu, làm sao ngài có thể bước lênvị trí quân lâm thiên hạ?”

Nhưng ta lại thắt tim lại. Nếu kết cục của Tích Lương đã định từ lâu trong tâm nữ đế, vậy còn Ứng Tích Triều thì sao?

Ngay lúc ấy, rốt cuộc Vi Chiêu Y cũng cất tiếng.

Bà đẩy tầng tầng lớp lớp thị vệ, đi đến trước triều thần, lạnh lùng nhìn đám đại thần rối loạn kia, trầm giọng nói: “Án của Tiết Lương, trẫm nhất định sẽ tra xét đến cùng. Kẻ nào dám dối lừa trẫm, câu kết nghịch tặc, bất kể thân phận cao hay thấp, xuất thân thế nào, trẫm quyết không dung thứ!”

Vi Chiêu Y đảo mắt nhìn khắp bốn phương, thanh âm vững chắc hữu lực: “Hiện nay, Vi Chu ta đang trong cơn nguy khốn, phong ba bủa vây. Ngoại địch nơi biên cảnh như hổ rình mồi, bầy sói giương nanh, lúc nào cũng muốn xâm chiếm giang sơn ta, cướp bóc lê dân ta, lật đổ xã tắc này. Trong triều, lại có kẻ tâm địa khó lường, lòng muôn dạ thú, rắp tâm hại người.”

“Nhưng, Vi Chu ta từ khi truyền thừa đến nay, trải qua muôn trận cuồng phong, tuyệt không gục ngã nơi đây. Con dân Vi Chu ta xưa nay đồng lòng vững dạ, đồng tâm hiệp lực, sức mạnh như thành đồng vách sắt; lúc này lại càng nên cùng nhau vượt qua hiểm nguy, hóa dữ thành lành, vì sự thái bình của Vi Chu mà chiến đấu. Trẫm là đế vương một nước, tất sẽ hoàn trả cho Vi Chu một cõi càn khôn sáng rõ, giang sơn vững bền, bá tánh an cư lạc nghiệp!”

Tiếng bàn tán ồn ào không biết từ khi nào đã lặng đi, khắp quảng trường im phăng phắc.

Chỉ lát sau, giữa đám đông vang lên tiếng nức nở nghẹn ngào. Ngày càng nhiều bách tính và bá quan quỳ xuống, âm thanh hô vang vang dội trời xanh:

“Nguyện giữ Vi Chu thái bình! Vạn tuế vạn tuế vạn vạn tuế!”

Giữa muôn trùng thanh âm đó, Vi Chiêu Y vẫn đứng thẳng như tùng xanh trên đỉnh cao, ngạo nghễ không lay chuyển.

Gió nhẹ thổi qua, vạt áo nàng phần phật tung bay, song chẳng thể làm nàng rung động dù chỉ một phân. Nàng như hòa làm một với trời đất, hóa thành núi cao sừng sững không thể khuất phục, lại tựa thần minh cai quản vạn vật, khiến người ta vừa kính sợ, vừa sinh lòng quy phục nương tựa.

Cuối cùng, ánh mắt nữ đế rơi xuống người Ứng Tích Triều, nơi đáy mắt lướt qua một tia phức tạp.

Ứng Tích Triều cũng ngẩng đầu, đối diện ánh nhìn của Vi Chiêu Y, đón lấy số mệnh đang chờ mình phía trước.

Vi Chiêu Y mở lời: “Trẫm biết, ngoài cung còn có lời đồn nói rằng giam phu độc tử,. Lời đồn ấy chưa dứt, Vi Chu ta chưa thể yên. Hôm nay, trẫm sẽ cho thiên hạ một lời công đạo——”

“Người hầu đã đầu độc tiên hoàng Tề Hàm Chi, kẻ ấy là Chiêu nhi, vốn chưa chết, mà hiện đang có mặt tại đây.”

Chung quanh lập tức lặng ngắt như tờ, tất cả đều bị tin tức ấy dọa đến nín thở.

Ta vô thức siết chặt tay Ứng Tích Triều, nàng lại chỉ mỉm cười với ta, nụ cười ấy mang theo một phần tiêu sái, một phần bình thản.

Nàng nhẹ nhàng vỗ mu bàn tay ta, rồi gỡ tay ra, bước từng bước trầm ổn, đối diện ánh nhìn của Vi Chiêu Y, tiến về phía ánh mắt vạn người đang đổ dồn tới.

Gió khẽ lay, tóc mai nàng lay động theo gió, thân ảnh nhẹ nhàng mà cứng cỏi, mỗi bước chân đều dứt khoát vững vàng.

Nàng xuất hiện như viên đá rơi vào mặt hồ đang lặng, chấn động không khí đang nín thở.

Ứng Tích Triều đứng giữa thiên địa, như chẳng thuộc về thế gian này, bóng dáng đơn độc, nhưng đang tiến về phía một bi kịch không thể tránh khỏi.

Rốt cuộc, nàng đã đứng trước mặt Vi Chiêu Y, cũng chính là đứng trước mặt thiên hạ.

Vi Chiêu Y hỏi: “Chiêu nhi, phải ngươi giết tiên hoàng chăng?”

Ứng Tích Triều hít sâu một hơi, dứt khoát nói: “Không phải.”

Một lời rơi xuống, thiên hạ chấn động.

Ứng Tích Triều nói rõ từng chữ từng lời: “Kẻ giết là một người khác.”

Vi Chiêu Y chăm chú nhìn nàng, như ưng nhìn con mồi.

Còn ta, chẳng dám đoán Ứng Tích Triều trong mắt bà giờ phút này là sinh, hay là tử.

“Vậy ngươi nói xem, là ai đã giết tiên hoàng?”

Ứng Tích Triều khẽ thở ra một hơi thật dài. Khi nàng mở miệng, chính là lúc câu chuyện cuối cùng được vén màn…


Vân hiện lên và nói: LÀ AI..LÀ AIIIII ૮₍ ˃ ⤙ ˂ ₎ა

Cài đặt đọc

Để lại một bình luận