15

Mắt trái là mê chướng.

Mắt phải là nhân gian.

Trên thế gian này, chẳng có yêu ma quỷ quái.

16

Chỉ có tiên sơn cao lừng lững, che chở sinh dân thoát khỏi cảnh nước lửa.

  1. Vì vậy, suốt hành trình lịch luyện, ta chưa bao giờ rút kiếm ra. Nhưng rồi dần dần, ta nhận ra mình không thể cứ trốn tránh mãi.

Đến gần cuối đợt lịch luyện, sư tỷ Tuyên Yến muốn các đệ tử mới có cơ hội rèn luyện nên tốt bụng gọi ta: “Con này yếu thôi, tiểu sư đệ thử xem nào. Cầm kiếm mà chém nghiêng nhé, đừng lo, ta sẽ đứng bên cạnh giám sát!”

Nói rồi, sư tỷ đẩy ta một cái.

Ta nhìn vào tiểu hài tử đang nhìn mình bằng ánh mắt ngây thơ, đôi tay siết chặt chuôi kiếm đến mức trắng bệch, run rẩy.

“Sư… sư tỷ, ta… không được…” Ta cắn chặt răng, cố ép những lời từ chối ra khỏi cổ họng.

Bỗng, một tia sáng trắng sắc lạnh vụt qua. Hài tử khoảng bảy tám tuổi vẫn mở to đôi mắt tròn xoe, nhưng trên cổ đã xuất hiện một đường máu mảnh. Nó ngã xuống, khuấy động lớp bụi trong cánh đồng khô cằn, tỏa mù mịt trong không trung.

Khi đó, Kỳ Mạc lười biếng tựa lưng vào một góc, tay nắm lấy chuôi kiếm và huýt sáo gọi thanh kiếm trở lại vỏ. Hắn nhếch mép cười đầy châm chọc: “Sư đệ à, nam nhân mà nói mình ‘không được’ trước mặt nữ nhân thì còn ra thể thống gì?”

Ta lặng im.

“Biến đi!” Tuyên Yến trừng mắt nhìn hắn rồi quay sang ta, thấy mặt ta đỏ bừng vì căng thẳng, nàng nghĩ rằng ta đang ngượng ngùng liền xoa đầu an ủi:

“Đừng nghe hắn nói linh tinh. Không dám ra tay là chuyện bình thường thôi. Ngày đầu tiên đối mặt với ‘Ngũ Kỳ Quỷ’ ta còn cứng ngắc hơn ngươi nhiều.”

Tuyên Yến búng tay một cái: “Lịch luyện thêm vài lần nữa là quen thôi.”

Ta khẽ đáp “Ừ”, rồi vội cúi đầu nhìn xuống.

Đôi mắt dán chặt vào con ký sinh trùng đang vươn ra từ bụng của Tuyên Yến, quẫy đạp những xúc tu, hút lấy nỗi oán hận của hài tử trước khi chết.

Khi Kỳ Mạc giết hết người thân của ta, phải chăng các người cũng vui vẻ hân hoan như vậy?

Một cảm giác lạnh buốt lan ra trong lòng. Ta giận dữ thầm nghĩ:

Ta muốn các người phải chết.

  1. Qua quá trình lịch luyện, kết hợp với những buổi giảng dạy gần đây, ta đã nắm được phần nào quy luật của chúng.

Trong lễ điện lộng lẫy đầy tiên khí của núi Bồng Lai, Huyền Thanh Tiên Tôn giảng giải cho chúng ta:

“Tiên nhân vì thiên địa lập tâm, vì dân lập mệnh.”

“Khi dân cảm kích sẽ cung phụng hương khói, đó là bậc cao thượng.”

“Còn khi dân sợ hãi lo lắng thì đó là bậc thấp kém.”

Nhưng đây chỉ là cách con ký sinh trùng thao túng vật chủ.

Thắp hương cầu nguyện có thể đem lại linh lực, giúp chúng trở nên mạnh mẽ. Còn nếu chết trong sợ hãi, cũng sẽ nuôi dưỡng thân thể chúng.

Làm sao để dân chúng vừa kính vừa sợ núi Bồng Lai và tiên nhân nơi đây?

Rất đơn giản.

Tối hôm ấy, ta tự nhủ và ghi chép lại:

“Làm ra những quyển sổ tay về ‘quỷ quái tà ma’, phát xuống dân gian, đe dọa liên kết với các tai họa.

“Vậy là khi thiên tai giáng xuống, dân chúng sẽ cho rằng lũ lụt là do Hà Bá, phải hiến dâng tân nương; hạn hán là do Hạn Bạt; năm mất mùa, Thái Tuế sẽ giáng xuống…

“Các tu sĩ sau đó sẽ xuống núi ‘trừ tà’.

“Như thế, chúng sinh vừa kính ngưỡng, thắp hương cầu phúc, vừa lo sợ mà gục ngã trước mặt chúng.”

Vì vậy, sau mỗi lần lịch luyện, các tu sĩ đều có sự tiến bộ vượt bậc.

Gấp lại những ghi chép lộn xộn, ta nhìn ra ngoài, nơi ánh trăng xiên xiên trên nền trời, khẽ rùng mình.

Chúng… hoặc có thể nói là nó…

Như một quy luật tồn tại khắp mọi nơi, len lỏi vào mọi lý giải hợp lý, dựng nên một bức tường đồng vách sắt đứng trên tất cả chúng sinh.

Cứ ngỡ là không thể nào phá vỡ.

  1. Đau khổ đến tột cùng.

Đôi khi ta cũng không chắc kẻ thù của mình là Kỳ Mạc, là núi Bồng Lai, hay là những sinh vật ghê rợn kia.

Một buổi sáng, ta bực bội chạy quanh núi Bồng Lai.

Ký sinh trùng giúp người ta thay da đổi thịt, thân thể ta đã khỏe mạnh hơn trước rất nhiều, chạy liền mười vòng mà không hề mệt.

Kết thúc buổi chạy, ta leo lên bậc đá chuẩn bị trở về.

Đến lưng chừng núi thì trời bắt đầu mưa.

Tháng tư trên núi thường có mây mù phủ kín, rừng đào nở rộ, nhẹ nhàng rơi rụng, ẩn hiện trong màn mưa mờ ảo.

Xa xa, làn khói bếp mỏng manh len qua những ngôi làng bình yên, dấu vết của nhân gian.

Ta đứng lặng ngắm nhìn một lúc, lòng ghen tị mà trầm mặc, thấy mưa nặng hạt dần, liền tìm một góc rừng để trú, buồn chán nhìn quanh.

Đột nhiên, ta khựng lại.

Không xa phía trước, giữa đám cỏ dại rậm rạp, lại có một cái hố đất ẩn giấu!

Năng lực của ta có giới hạn – khoảng cách, độ dày của vật thể, trọng lượng hoặc ánh sáng đều có thể ảnh hưởng đến khả năng nhìn xuyên.

Ta không thể thấy rõ bên dưới có gì, đành phải tiến đến gần, tìm kiếm một lúc.

Cuối cùng, không biết đã đụng phải cơ quan nào, chỉ nghe thấy một tiếng “cạch” vang lên.

Một cánh cửa ngầm dưới chân ta mở ra bất ngờ, khiến ta ngã ngồi xuống đất.

Ta lồm cồm đứng dậy, ta nhìn lên thấy trước mặt là một lối đi tối om, dẫn thẳng vào sâu trong lòng đất.

Ta ngập ngừng tự hỏi: Đây là nơi nào?

Lục lại trí nhớ về ba trăm mật đạo của Bồng Lai, ta không thấy chỗ nào khớp với nơi này.

Sau đó ta thử gọi lớn: “Có ai không?”

Không có hồi đáp.

Ta búng ngón tay để tạo lửa soi sáng, thấy trước mắt là một bức tường đá lớn sừng sững.

Bức tường đá cũ kỹ, rêu phong bám đầy, lẫn với những vết kiếm chém.

Trên đó có hàng chục đạo phù chú được dán lên.

Ta hít một hơi lạnh, không dám manh động, cẩn thận ghi nhớ các văn tự trên phù chú, rồi về tìm kiếm cả mấy ngày mới tìm ra cách giải.

Chờ đến một buổi sớm mưa bão, ta lại tìm đến nơi hẻo lánh giữa rừng, mở cánh cửa dẫn xuống địa động ấy.

20

“Bộp.”

“Bộp.”

Bước chân trầm lặng.

Ta bước xuống bậc thang đá, địa đạo uốn khúc, trên tường treo đầy những thanh kiếm sắt đã gỉ sét loang lổ. Thoạt nhìn chỉ như một nhà kho chứa vũ khí cũ nát. Thế nhưng trực giác mách bảo ta rằng, nếu chỉ là kho chứa bình thường, hẳn sẽ có ghi chép, và cửa lớn cũng sẽ không dán kín bùa chú như vậy. Ta gạt bỏ nghi ngờ trong lòng, bước càng lúc càng nhanh. Cuối cùng, ta cũng tới điểm cuối cùng — nhưng trước mặt vẫn chỉ là một khoảng trống rỗng.

Ngọn lửa nhảy múa nơi đầu ngón tay chiếu lên vách đá gồ ghề, bóng đen ma quái nhảy múa lung tung.

…Chẳng lẽ ta đoán sai rồi sao?

Ta cắn chặt răng, lòng không cam tâm, nhưng không còn cách nào khác. Hít sâu một hơi, ta đành quay lưng chuẩn bị rời đi. Khi quay người, đuôi vỏ kiếm dài chạm vào vách đá, vang lên một tiếng thanh thúy rỗng tuếch. Ta giật mình, đứng sững tại chỗ. Lập tức quỳ xuống, dùng đốt ngón tay gõ từng tấc đá trên tường.

Là rỗng! Có chỗ là rỗng!

Chỉ có điều chất đá ở đây thật kỳ lạ, dù ta có cố nhìn cũng không thể thấy rõ bên trong. Ta nhanh chóng xác định vị trí, cầm kiếm lên mà mạnh tay chém tới tấp. Không biết đã bao lâu, vách đá trước mặt cuối cùng cũng nứt ra thành những khe rạn nứt dữ tợn.

Bên trong khe nứt, là một… người đàn ông bị đóng chặt trong vách đá.

Tứ chi, lục phủ ngũ tạng đều bị đâm xuyên bởi những chiếc đinh dài rộng hai ngón tay. Vô số xích sắt huyền thiết xuyên qua xương bả vai, xương cổ tay, xương sống của hắn và gắn chặt vào tảng đá. Thân thể vẫn chưa bị phân hủy, ta vừa định dò thử hơi thở của hắn.

Hắn đột nhiên ngẩng đầu, giống như bị tiếng động làm thức giấc.

Trong hốc mắt lẽ ra phải có nhãn cầu lại là hai hố sâu trống rỗng đỏ thẫm. Ánh lửa đỏ trên đầu ngón tay ta chiếu vào, càng làm tăng thêm vẻ quỷ dị kinh hoàng.

Ta: “!!!!”

Ta lập tức sợ hãi lui mấy bước, dán chặt vào vách đá lạnh băng, thở hổn hển. Ngọn lửa trên đầu ngón tay cũng tắt lịm.

“Bảy bảy chín năm bốn sáu bảy bảy ba tám …” Trong bóng tối, hắn lẩm bẩm đứt quãng gì đó, rồi khàn giọng hỏi ta: “Các, hạ, nào, vị?”

Ta bị dọa đến ngẩn ngơ, hồi lâu sau mới cố gắng đáp trả: “…Tiền, tiền bối là ai?”

Một người bị xây kín trong tường đá mà vẫn không chết, hẳn cũng là một tu sĩ.

Hắn không trả lời, ngừng lại rồi hỏi một câu khác: “Hôm nay… ngày nào?”

Ta do dự: “…Năm Thái Bình thứ ba của Đông Ngụy.”

“Đông Ngụy?” Hắn nhắc lại, dường như không hiểu, “Lưu, Hoàng thúc, vào, Thục bao lâu rồi?”

Ta mất một lúc mới hiểu ý hắn, tính nhẩm rồi đáp: “Hơn ba trăm năm.”

Vừa dứt lời, trong đầu ta như có tia sét đánh qua.

Chuỗi số hắn lẩm bẩm khi nãy! Ta đã biết đó là gì rồi. Đó là đếm hơi thở theo thời gian, từ hơn ba trăm năm trước đếm đến tận hôm nay. Người đàn ông này…

Toàn thân ta lạnh toát.

Hắn đã bị giam trong vách đá của núi Bồng Lai, trọn vẹn ba trăm năm. Không thể cử động, chẳng thấy ánh mặt trời.

21

Muốn moi thông tin từ miệng hắn chẳng phải chuyện dễ. Sự nàng độc mấy trăm năm đã khiến ngôn ngữ của hắn thoái hóa đến cực hạn. Ta đành mỗi buổi sáng, bỏ ra thời gian một chén trà để trò chuyện, dần dần chiếm được thiện cảm của hắn.

Lời hắn nói bắt đầu trôi chảy dần. Ba tháng sau, cuối cùng hắn cũng chịu mở lời:

“Vì sao ta ở đây à? Tẩu hỏa nhập ma nên bị phong ấn lại thôi.”

Ta ngồi xếp bằng trên địa đạo, im lặng một lúc, ta thử thăm dò: “Tiền bối là Trình Toán phải không?”

“Sao ngươi biết?”

Ta ngẩng đầu nhìn hắn: “Hậu bối đã tra duyệt tất cả ghi chép về các tu sĩ tẩu hỏa nhập ma thời Tam Quốc. Khi đó có tổng cộng mười ba người, mười người bị xử tử, ba người bị phong ấn. Còn người ở Bồng Lai, chính là ngài.”

“Không ngờ còn người nhớ đến chúng ta.” Hắn cười khẽ, rồi bật cười lớn, huyết lệ trào ra từ khóe mắt, giọng cười mang theo vẻ lạnh lẽo bi thương: “Ta coi như còn may mắn. Ngươi biết hai người kia đang ở đâu không? Tiên Môn của bọn họ nằm trong Hải Thị Thận Lâu, nên bọn họ bị phong ấn trong lồng sắt vừa thân người, bị đóng đinh dài, xích sắt khóa chặt rồi dìm vào đáy biển. Đáng sợ hơn, họ vẫn còn sống. Chết chìm rồi lại tỉnh dậy,cứ liên tục như thế.”

“Tiền bối.” Ta khẽ ngắt lời, “Tẩu hỏa nhập ma có thể giết chết trùng không?”

Toàn thân Trình Toán run rẩy, kinh hãi mà lắp bắp: “Ngươi…”

“Ta có thấu thị.” Ta tiết lộ cho hắn.

“Con trùng trong đan điền của ngài đã chết rồi.”

22

Bầu không khí tĩnh lặng kéo dài. Ta mở lời một cách bình thản, âm thanh vang vọng trong động đá sâu thẳm, từng hồi từng hồi:

“Người thân của ta đã bị môn phái Bồng Lai sát hại, tiền bối, ta phải làm sao đây?”

Trình Toán khẽ bật cười một cách quái dị:

“Chuông đồng.”

Ta hỏi lại: “Gì cơ?”

“Các môn phái tu tiên đều treo chuông đồng trừ tà. Khi đệ tử ra ngoài lịch luyện thời gian dài, cần đeo chuông bạc bên chuôi kiếm. Âm thanh chuông có thể làm dịu trùng thể.”

Đôi mắt trống rỗng của Trình Toán dường như “nhìn” chằm chằm vào ta, trong giọng nói lại lộ ra vẻ hứng thú quỷ dị:

“Hãy gỡ hết lưỡi chuông ra. Không quá ba tháng, những người dưới Độ Kiếp kỳ đều có thể tẩu hỏa nhập ma.”

Ta khẽ đáp lại: “Ta hiểu rồi.”

23

Hệ thống tu tiên hiện nay đã hoàn thiện, từ thấp đến cao lần lượt là: Trúc Cơ, Kim Đan, Nguyên Anh, Xuất Khiếu, Phân Thần, Hợp Thể, Độ Kiếp, Đại Thừa, Hóa Thần.

Toàn bộ Bồng Lai, bậc trưởng lão Đại Thừa kỳ cũng chỉ có ba vị. Độ Kiếp kỳ duy nhất chính là sư phụ ta.

Vậy nên… những người dưới Độ Kiếp kỳ gần như chiếm chín phần chín trong Bồng Lai.

Khả năng thấu thị này từ nhỏ giúp ta tinh thông kỹ thuật mộc. Vì thế, ta bỏ ra vài ngày để chế tác một móng vuốt. Mỗi ngày, nhân lúc không ai để ý, ta lén lút bẻ gãy lưỡi chuông treo dưới mái hiên.

Có lẽ vì tâm tình lo lắng khi làm việc lén lút, hôm đó khi ta đứng dưới hiên nhìn ngắm cảnh vật, một người chạm vào vai khiến ta giật bắn mình.

Kẻ đó cũng bị phản ứng quá mức của ta làm kinh ngạc, oán trách nói:

“Sư đệ, đang làm gì vậy?”

Ta quay đầu nhìn lại, Tuyên Yến mặc trang phục đỏ, đi ủng da nai còn lấm bùn đất, hiển nhiên vừa từ dưới núi trở về. Nàng còn xách theo một con hổ đã chết.

Vóc người mảnh khảnh của nàng đối lập rõ rệt với thân hình mạnh mẽ của con hổ.

Ta mỉm cười nói: “Nhìn tiên hạc trên trời thôi. Quê nhà đệ tên là Bạch Hạc thôn, có lẽ gặp cảnh nhớ người.”

Rồi ta hỏi lại: “Sư tỷ vừa về sao?”

“Ừm.” Tuyên Yến hơi hếch cằm, ý bảo ta nhìn con chiến lợi phẩm nàng đang xách—

“Dân làng gần đây nói hổ dữ tấn công con người, nên ta xuống núi giúp họ trừ họa.”

Nàng liếc nhìn trang phục mỏng manh của ta thì cười nói: “Lập đông sắp tới rồi, ta sẽ nhờ các sư huynh sư tỷ ở Thiên Xu viện làm cho ngươi một chiếc áo lót lông hổ.”

Khi tay ta vừa định chạm vào chuông bạc treo trên chuôi kiếm của nàng, nghe thấy lời ấy, ta thoáng do dự, rồi thu tay lại, khẽ cúi đầu đáp:

“Đa tạ sư tỷ.”

Cài đặt đọc

Gửi phản hồi

Khám phá thêm từ Khuynh Vân

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc