Cẩm nang hành tẩu nhân gian:
【Mặt trời mọc, mặt trăng lên, nhân gian có Minh Đường.】
–
Khi Nhiếp Minh Nguyệt đến Bắc Cảng, bão tố đã hoành hành suốt nửa ngày. Mặt biển cuồn cuộn sóng dữ, những đợt sóng đánh vào cột cờ trên bến cảng, khiến nó chao đảo như sắp đổ. Trên mặt biển phía dưới lá cờ, một chiếc thuyền đánh cá đang chòng chành, gắng gượng quay về cảng.
“E là sắp xảy ra chuyện lớn rồi! Đây không phải cơn mưa bình thường!” Lão chủ thuyền kinh hãi, nhưng trong lòng cũng có chút mừng rỡ vì thoát được một kiếp. May mà khi đi được nửa đường, ông phát hiện phía xa có mây đen cuồn cuộn kéo đến theo gió, lập tức bảo người chèo thuyền quay đầu trở về.
Vừa cập bờ, ông liền thả neo, rồi cùng người kia vội vã xuống thuyền. Hai người vừa chạy đến khu phố buôn bán trên bến cảng, con thuyền đã bị sóng lớn cuốn đi, chẳng khác nào chiếc lá giữa biển khơi, mỗi lúc một xa, cho đến khi cột buồm gãy lìa, chìm xuống đáy biển.
–
Người trên bến cảng đều chạy về phía bờ, chỉ có một lão già gầy gò, tóc đỏ, mặt trắng, mắt tam giác đứng giữa màn mưa, vung phất trần về phía biển, lớn tiếng kêu: “Đến rồi! Đến rồi!” Đôi mắt lão sáng quắc, mặt đỏ bừng.
Lệ Nương kéo lão lại: “Mã Lộc Tử, mưa lớn quá rồi! Mau quay về đây!”
Buổi trưa lúc uống rượu, lão còn nói trời mưa thì không tiếp khách, vừa hay có thể tranh thủ uống hết chỗ rượu ngon trong quán. Ai ngờ rượu vừa ngấm, lão đã bắt đầu phát điên.
Gió dữ thổi nước mưa thành những lưỡi dao mỏng, cứa vào mặt những người đang chạy trong mưa. Một trận cuồng phong nữa quét qua, hất tung mái nhà của quán rượu ở đầu phố.
Một thanh xà gỗ lớn sắp đập trúng đầu Lệ Nương, nhưng nàng ấy vẫn chẳng hề hay biết. Đúng lúc ấy, một bàn tay vững vàng giữ lấy phần mái nhô ra, nhẹ nhàng đặt nó xuống đất.
Lệ Nương cảm thấy phía sau có động tĩnh, quay đầu nhìn lại, người vừa đến chính là Nhiếp Minh Nguyệt.
–
“Minh Nguyệt! Mau lên! Giúp ta kéo cái lão già kia vào trong trước đã!” Toàn thân nàng ấy ướt sũng, mưa quá lớn khiến nàng không mở nổi mắt, vẫn chưa biết mái quán của mình đã bị thổi bay.
Ngay khi nàng ấy vừa buông tay, Mã Lộc Tử đã thoát ra, lao thẳng về phía mây đen ngoài biển.
Nhiếp Minh Nguyệt đuổi theo lão đến cầu gỗ trên bến cảng. Lúc này, cuối cùng lão cũng chịu dừng lại, gào lên: “Yêu quái! Hải yêu đến rồi!”
Mây đen cuồn cuộn ép về phía bờ. Những người chưa kịp chạy thoát lúc này mới nhìn rõ, thứ đó nào phải mây, rõ ràng là một con hải quái chưa từng thấy bao giờ.
Toàn thân yêu quái đen kịt, thân hình che khuất nửa bầu trời, tiếng kêu quái dị chói tai vang vọng tận trời cao. Nơi nó đi qua, nước biển sôi sùng sục, sóng lớn dựng đứng lên trời rồi nện mạnh xuống, cuốn theo những đợt sóng dữ dội hơn.
–
“Đó là… Thận!” Mã Lộc Tử gọi tên nó, giơ cây phất trần đã bị nước mưa làm xơ xác, miệng lẩm nhẩm niệm chú. Đọc được vài câu, lão ném một nắm giấy phù về phía Thận…
“Lão già này điên hẳn rồi!” Có người trông thấy hành động kỳ quặc của lão, không nhịn được lắc đầu.
Qua đôi mắt đỏ của Nhiếp Minh Nguyệt, nàng thấy mỗi lần lão vung phất trần, một đường cong lại hiện ra giữa không trung. Sau vài lần, những đường cong ấy hợp thành một pháp trận khổng lồ. Những lá bùa rải giữa không trung, dừng lại mà không rơi xuống, nằm đúng tại các trận nhãn của pháp trận.
Chính pháp trận ấy đã ngăn Thận lại giữa mặt biển, cách bờ ba trăm mét, khiến nó không thể tiến thêm.
Tiếng kêu chói tai đột ngột dừng lại. Mọi người bỏ hai tay đang bịt tai xuống, rón rén đứng dậy, lén nhìn xem chuyện gì đã xảy ra.
Con hải yêu giữa đám mây đen phía xa đã bất động. Trên cầu gỗ ở bến cảng, có hai bóng người không nhìn rõ mặt đang đứng giữa gió mưa.
Gió ngừng thổi, mưa cũng dịu đi, nhưng con hải yêu… lại chuyển động.
Nó há cái miệng khổng lồ kéo dài ngang thân, cơ thể lập tức phình to gấp đôi. Mỗi khi lùi lại một tấc, nó lại khiến sóng biển cuộn lên; mỗi khi tiến tới nửa thước, nó lại cuốn theo cuồng phong dữ dội… Nó liên tục dùng thân mình đâm vào pháp trận.
Mã Lộc Tử phun ra một ngụm máu, lấy máu làm mực, vội vã vẽ bùa giữa không trung. Lão còn chưa kịp hoàn thành pháp trận, con hải yêu đã phá trận xông ra, lao thẳng về phía bến cảng.
–
Nhiếp Minh Nguyệt lấy cây cung bạc sau lưng xuống, đặt tên lên dây cung. Một luồng sáng trắng bắn về phía mặt biển, xuyên vào cơ thể hải yêu. Tuy trúng tên, nhưng nó chẳng hề bị tổn thương chút nào.
Thấy có người nhúng tay vào, Mã Lộc Tử không kịp nhìn xem là ai, lập tức nói: “Vô ích thôi, phải chui vào miệng nó, cắt bỏ trụ dao của nó thì nó mới không há miệng được nữa!”
Người kia hỏi: “Trụ dao?”
Mã Lộc Tử sốt ruột đến giậm chân: “Ôi trời, chẳng phải nó chỉ là một con yêu quái ngao sò thôi sao! Ngao! Hến! Sò điệp!” Lão bắt đầu nói năng lộn xộn: “Dù quê cô gọi nó là gì thì nó cũng là một con tinh vỏ trai!”
Nhiếp Minh Nguyệt hiểu ra, nàng triệu hồi Hương Hương. Thần thú Toan Nghê hiện thân trên mặt biển, to lớn như một ngọn núi nhỏ, rồi ngồi xổm xuống bên đầu cầu. Nhiếp Minh Nguyệt nhảy khỏi cầu gỗ, đáp xuống lưng Hương Hương.
Những người ở phía xa chỉ nhìn thấy một người giương cung bắn về phía hải yêu, tiếp đó mây đỏ cuồn cuộn dâng lên. Người ấy cưỡi mây bay đi, lao thẳng vào miệng hải yêu.
Chốc lát sau, hải yêu rú lên thảm thiết. Một ngọn thần sơn đột nhiên mọc lên từ trong miệng nó, ẩn hiện giữa gió mưa, càng lúc càng vươn cao. Dưới sức nặng đè xuống của thần sơn, lớp vỏ cứng của hải yêu vỡ vụn thành từng mảnh, hơi thở cũng hoàn toàn tắt lịm.
Hương Hương: Tướng quân đã dặn ngươi không được dùng linh lực! Ngươi chẳng chịu nghe lời!
Nhiếp Minh Nguyệt: Ta không mang theo dao để cắt trụ dao, nếu không thì còn biết làm thế nào…
–
“Bắt yêu trừ quái?” Lệ Nương giẫm lên những mảnh vỏ vỡ của yêu quái Thận, một tay chống hông, tay kia vung chổi lông gà, chất vấn: “Mã Lộc Tử, ta quen biết ngươi năm trăm năm rồi! Chút trò vặt vãnh này của ngươi mà đòi qua mắt được ta sao?”
Lệ Nương cười mỉa, nặng nề chống cây chổi lông gà trong tay xuống đất.
“Đây là cơ hội cuối cùng. Nếu ngươi còn không chịu nói thật, ta sẽ trói ngươi lại rồi dìm xuống biển!”
Mã Lộc Tử cụp mắt, rũ mày. Khi ấy, lão còn chưa hết vui mừng vì đã diệt được yêu quái thì Lệ Nương đã phát hiện ra điều bất thường: “… Ta… đã bố trí một pháp trận ở bến cảng. Con yêu quái Thận kia bị pháp trận thu hút đến…”
Hương Hương vốn đang chơi dưới chân Nhiếp Minh Nguyệt. Nghe thấy câu này, nó lập tức nhe răng với Mã Lộc Tử, phát ra tiếng gầm gừ đầy đe dọa.
Mã Lộc Tử co rúm người, cuối cùng cũng kể ra sự thật đằng sau vụ hải yêu gây loạn lần này.
–
Trước đó, Mã Lộc Tử vốn tu luyện trong núi ở Minh Châu. Một ngày nọ, lão gieo quẻ, phát hiện phương Bắc sắp có sóng thần và bão lớn xảy ra vào tháng Chín, bèn lặn lội đường xa đến bến cảng Bắc Cảng.
Lão muốn nhân lúc bão lớn, giết một con đại yêu dưới biển sâu để giúp tu vi của mình tăng tiến. Dù sao đến lúc ấy, lòng người sẽ hoang mang, chẳng ai còn tâm trí nhìn ra biển…
Không ngờ ngay ngày đầu tiên đến đây, lão đã gặp Lệ Nương và cô nương A Kim trong quán rượu. Lệ Nương ngày nào cũng để mắt đến lão, đến lúc bắt yêu khó tránh khỏi bị bó tay bó chân.
“Bạn cũ gặp lại đương nhiên là chuyện tốt, chỉ có điều, vì sự an nguy của tỷ muội Lệ nương tử, tốt nhất vẫn không nên để họ tham gia vào chuyện bắt yêu…” Thế là lão giở chút thủ đoạn, khiến yêu quái Thận tấn công bến cảng sớm hơn hai tháng…
Mã Lộc Tử cố cãi chày cãi cối, nhưng không dám ngẩng đầu nhìn thẳng vào mắt Lệ Nương.
–
“Rắc!” Lệ Nương tức đến mức giậm chân, giẫm nứt lớp vỏ dưới chân: “Ta thấy ngươi chỉ sợ không thể độc chiếm ảo cảnh của hải yêu này, nên mới muốn phá hủy quán của ta, ép ta rời đi thì có!”
Nói rồi, nàng ấy xông tới định đánh người.
Quán rượu của nàng, cả khu phố buôn bán ở bến cảng… cơ nghiệp nàng vất vả gây dựng suốt mấy năm trời, nay đều tan tành. Nàng không nuốt sống Mã Lộc Tử ngay tại chỗ đã là nhân từ lắm rồi.
Nhưng Nhiếp Minh Nguyệt đã ngăn lại.
“Dẫn dụ Thận ra biển, đương nhiên phải chịu trách nhiệm. Phạt ở lại Bắc Cảng ba mươi năm.” Nhiếp Minh Nguyệt nhận thấy Mã Lộc Tử quả thực có bản lĩnh, bèn nói tiếp: “Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, nếu biểu hiện tốt, ngươi có thể gia nhập Minh Đường.”
Nàng còn hứa hẹn với lão một con đường phía trước, để lão chịu khó làm việc tử tế, tránh ngày nào cũng gây chuyện sinh sự.
Mã Lộc Tử thầm nghĩ, đây mà là trừng phạt sao? Rõ ràng là phần thưởng thì có! Nhiếp Minh Nguyệt khiến lão vừa nhìn đã thấy sợ, trông có vẻ thủ đoạn tàn nhẫn, nhưng thật ra lại khá mềm lòng.
Lão không nhịn được vội vàng thể hiện bản thân: Về phần quán rượu của Lệ nương tử và bến cảng, ta có cách giảm bớt tổn thất…”
–
Vài ngày sau, trên đống đổ nát của quán rượu mọc lên mấy tảng đá nhỏ.
Dần dần, người đi ngang qua đều dừng chân, khẽ khấn nguyện trước những tảng đá. Có người còn mang theo hương nến và hoa quả, cung kính đặt trước đá, cảm tạ Hải Thần đã phù hộ, cầu mong chuyến ra khơi được bình an.
Một thời gian sau, bến cảng mới được xây dựng lại dưới chân núi đá. Người dân chọn một nơi an toàn hơn để sinh sống và làm ăn, một Bắc Cảng mới cũng từ đó hình thành.
Đến khi có người quay lại bến cảng cũ, họ phát hiện ở hai đầu khu phố buôn bán bỏ hoang đều xuất hiện thêm một pho tượng đá.
Tượng Toan Nghê nằm ở đầu phố, hướng mắt nhìn ra biển, tựa như thần thú trấn giữ biển khơi, uy hiếp bốn phương.
Tượng Hải Thần đứng ở cuối phố, thân hình vạm vỡ, oai phong như một vị tướng quân dũng mãnh. Tượng đứng trên bệ đá hình vuông, tay cầm trường cung kéo căng dây, mũi tên chĩa thẳng về hướng Toan Nghê đang nhìn.
Lệ nương tử, đại thương nhân của bến cảng Bắc Cảng mới, nói rằng đó chính là Hải Thần và thần thú đã giết chết hải yêu.
Nàng sẵn lòng bỏ tiền xây dựng một ngôi đền Hải Thần trên nền khu phố buôn bán cũ, cầu xin hai vị phù hộ cho Bắc Cảng, để núi biển mãi mãi yên bình.
Người ta đặt tên cho ngôi đền Hải Thần ấy là Trấn Hải Tự.
–
Hương Hương hỏi: Vì sao phải dựng tượng thần cho tướng quân?
Nhiếp Minh Nguyệt đáp: Ông xứng đáng được như vậy. Bách tính thờ phụng, hương khói lưu truyền mãi mãi.
–
“Vậy đây chính là Trấn Hải Tự mà tôi biết? Trấn Hải Tự ở Hải Trạch sao?” Bạch Cẩn Du lại kinh ngạc. Trong câu chuyện của Đường tiên sinh, cô không chỉ nghe được chuyện về Nhiếp Minh Nguyệt, mà còn biết được những chuyện đã xảy ra ở thành phố Hải Trạch từ cả trăm năm trước.
Cô vốn tưởng mình chỉ nghe được một câu chuyện kỳ lạ nho nhỏ, không ngờ cuối cùng lại được nghe cả một truyền kỳ. Trong lòng cô không khỏi chấn động.
“Đúng vậy. Hương Hương chính là bản thể của ảo ảnh thần thú đã đánh bại tôi khi ấy.” Nhắc đến Hương Hương, giọng Kế Cửu Nhai cũng mang theo đôi chút cảm khái.
“Hóa ra người cầm ô trong truyền thuyết không chỉ có một.” Bạch Cẩn Du nhớ đến đại nhân Âm Minh Ty trong câu chuyện: “Vị đại nhân này chắc không phải người yêu của Nhiếp tiểu thư đâu nhỉ?”
Kế Cửu Nhai lắc đầu: “Không phải. Câu chuyện này rất dài, tôi sẽ cố kể xong cho cô trước khi máy bay hạ cánh.”
Bạch Cẩn Du bất mãn: “Anh cứ từ từ kể, cùng lắm thì đến Hải Trạch, tôi mời anh ăn cơm, chúng ta vừa ăn vừa nói tiếp.”
Kế Cửu Nhai bất đắc dĩ bật cười.
“Tối hôm đó, Đường tiên sinh còn đưa cho tôi một cái rương, nhờ tôi thay ông bảo quản. Bên trong là tất cả những bức thư nhà ông từng viết cho Nhiếp Minh Nguyệt khi còn ở nước ngoài.”
“Lục Quảng Hưng, cô biết người này chứ?” Kế Cửu Nhai hỏi.
“Biết chứ! Việt Đông vương, vị quân phiệt bị buộc phải rời khỏi vũ đài chính trị sau một bức điện triệu hồi trong thời kỳ hỗn chiến ấy.” Vừa nghe đến đây, Bạch Cẩn Du lập tức phấn khích trở lại: “Sao vậy? Lục Quảng Hưng cũng không phải người à?”
Kế Cửu Nhai lắc đầu: “Tôi cũng chỉ biết được chuyện này sau khi đọc những bức thư ấy. Khi Đường tiên sinh lên con tàu đi Đông Dương năm xưa, ông đã quen với cháu trai trưởng của Lục Quảng Hưng. Đó chính là Lục Tĩnh Minh, tộc trưởng nhà họ Lục ở Việt Đông hiện nay…”
–
Chị Minh Nguyệt thân mến:
Xa kinh thành đã nửa năm, lòng em trằn trọc khó yên. Hôm nay có kết quả kỳ thi, em may mắn đỗ đầu, được biết mình sẽ sang Mỹ du học chuyên sâu. Tin vui vừa truyền đến, trong lòng em vừa mừng vừa tiếc. Tiếc vì sắp phải xa quê hương vạn dặm, nỗi nhớ nhung khó giãi bày hết qua thư từ; mừng vì có thể sang phương Tây, học lấy kiến thức thực sự và rèn luyện bản lĩnh.
Ngày rời kinh thành, trên chuyến tàu biển vượt đại dương, em tình cờ gặp Lục Tĩnh Minh, cháu trai của tổng binh Việt Đông. Cậu bé này mới sáu tuổi, lần đầu gặp mặt đã co ro ở góc khoang tàu, vừa khóc vừa sụt sùi. Nghĩ đến những đêm em khóc lúc nhỏ, chị đã phải vất vả dỗ dành, vừa làm chị cả, vừa làm người thầy thân thiết, ân tình sâu nặng. Hôm nay trông thấy cảnh ấy, em không khỏi sinh lòng thương xót. Em đã nhận lời ông nội cậu bé, ngày mai sẽ đưa Tĩnh Minh đến New York. Trẻ nhỏ còn ngây thơ chưa hiểu chuyện, trách nhiệm này quả thực không nhẹ. Đến lúc ấy, em mới hiểu được những nhọc nhằn chị từng trải qua khi chăm sóc em năm xưa.
Trong thời gian du học ở Nhật Bản, em tận mắt chứng kiến những tệ nạn nơi đây. Trường lớp ở đó phần lớn do những kẻ trục lợi lập ra, quảng cáo rằng chỉ cần học vài tháng là có thể tốt nghiệp, nhưng thực chất chỉ có cái mã bên ngoài. Thế giới ngày nay, kẻ mạnh chính là kẻ nắm lẽ phải. Chỉ có kiến thức thực sự và bản lĩnh thực sự mới giúp đất nước tự cường.
Hiện nay, các cường quốc đều đang rình rập xung quanh, vận nước lâm nguy. Mỗi khi nhớ đến những lời tổ mẫu thường kể về nghĩa phụ đại nhân và sự nghiệp bảo vệ xã tắc của người, em lại nghĩ rằng tuy mình không có tài năng như tướng quân, nhưng cũng quyết chí một ngày nào đó sẽ giúp Trung Hoa rộng lớn của chúng ta sánh vai với thế giới. Người xưa mười hai tuổi đã ra thao trường, mười lăm tuổi đã đi du học. Nay em lên đường xa xứ, chính là đúng thời điểm ấy. Nguyện đem thân này dâng cho đất nước, lấy chí nguyện này báo đáp người thân!
Kính chúc chị bình an.
Em trai Đường Hòe kính bút.
Ngày 20 tháng 8 năm 1905.
Tái bút: Sáng nay, Tĩnh Minh tập viết chữ, đã viết câu: “Nâng chén mời trăng sáng, bóng với ta thành ba.” Nét bút còn non nớt, nhưng từng chữ đều chạm đến lòng em. Xin gửi bức thư này từ phương xa, thay lời nhớ nhung trong tiết Trung thu.
–
Mùa thu năm 1905, với thành tích đứng đầu kỳ thi du học Nhật Bản lần thứ nhất, Đường Hòe lên con tàu từ Yokohama đi San Francisco, Hoa Kỳ.
Lần này lên tàu, bên cạnh Đường Hòe có thêm một cậu bé. Cậu bé ấy chính là Lục Tĩnh Minh, cháu trai của Việt Đông vương Lục Quảng Hưng.
Khi đó, Lục Tĩnh Minh mới sáu tuổi, vì còn quá nhỏ nên học vấn chưa thông, thành tích đứng cuối kỳ thi lần này. Theo quy định của trường, cậu sẽ bị đưa về nước cùng những du học sinh khác.
Lục Quảng Hưng đã viết một bức thư cho Đường Hòe, nói rằng ông được mời sang Mỹ khảo sát vào năm sau, hy vọng Đường Hòe có thể đưa Lục Tĩnh Minh đi cùng đến Mỹ. Đến lúc ấy, ông sẽ đích thân đến thăm.
Sau gần nửa tháng lênh đênh trên biển, họ đến San Francisco, rồi đi tàu hỏa trên tuyến đường sắt xuyên Thái Bình Dương, cuối cùng cũng tới New York. Trong suốt hành trình ấy, ngoài việc dạy Lục Tĩnh Minh đọc sách viết chữ mỗi ngày, Đường Hòe còn dành thời gian trong khoang tàu để viết thư.
–
Lục Tĩnh Minh biết Đường Hòe có một người chị cả. Cậu là cháu trai trưởng của nhà họ Lục, trong nhà còn có một cậu em trai vừa mới chào đời. Giờ đây được Đường Hòe hết lòng quan tâm, cậu đã xem Đường Hòe như anh trai, vì thế cũng gọi Nhiếp Minh Nguyệt là “chị Minh Nguyệt”.
Sau khi đến New York, ban ngày Đường Hòe đưa Lục Tĩnh Minh đến trường tiểu học địa phương học tập. Buổi tối đón cậu về, ông sẽ hỏi han tình hình học tập trong ngày, sau đó giảng giải cho cậu những kiến thức ở bậc đại học. Việc cuối cùng vẫn luôn là viết thư cho chị Minh Nguyệt.
Lục Quảng Hưng quả thực đã đến New York. Sau một đêm trò chuyện thâu đêm với Đường Hòe, ông lại vội vã rời đi.
Đường Hòe không hé lộ dù chỉ một chữ về chuyện xảy ra đêm hôm ấy, chỉ bảo Lục Tĩnh Minh tập trung học hành. Còn Lục Tĩnh Minh cũng không muốn rời xa người anh này.
Bốn năm sau, Đường Hòe trở thành nghiên cứu viên phụ tá, đồng thời là sinh viên người Hoa duy nhất trong phòng thí nghiệm nghiên cứu công nghiệp của trường đại học. Ngoài ra, ông còn học thêm các môn chính trị và kinh tế.
Vào những ngày cuối tuần và kỳ nghỉ lễ, ông thường cùng vài thanh niên người Hoa tụ tập trong một căn hộ nhỏ, sôi nổi thảo luận và lên kế hoạch. Đây cũng là một trong những nguồn lực mà Lục Quảng Hưng mang đến cho ông.
–
Dù bận rộn đến đâu, ông vẫn kiên trì mỗi tuần ít nhất viết cho Nhiếp Minh Nguyệt một bức thư, chia sẻ những trải nghiệm và suy nghĩ của mình: “Chị thông minh hơn, xuất sắc hơn em. Chị bận rộn như vậy, thế thì em sẽ học thay chị, rồi kể lại cho chị nghe…”
Qua lời kể của Đường Hòe, chị Minh Nguyệt là người dũng cảm kiên cường, thông minh xinh đẹp, không gì không làm được.
Lục Tĩnh Minh tin rằng tất cả những gì Đường Hòe nói đều là sự thật.
Chỉ có điều, Đường Hòe chưa bao giờ nhận được thư hồi âm của chị.
“Chị không ở nhà tại kinh thành, chị còn rất nhiều việc quan trọng hơn phải làm, cho nên em chỉ cần viết thư cho chị là được.”
“Đến khi chị đọc được những bức thư này, chắc hẳn đã là chuyện rất lâu về sau rồi.”
••••••••
Lời tác giả:
Mã Lộc Tử sốt ruột đến giậm chân: “Ôi trời, chẳng phải nó chỉ là một con yêu quái ngao sò thôi sao! Ngao! Hến! Sò điệp!”
Vậy quê nhà các ngươi rốt cuộc gọi thứ này là gì?
Ngoài ra:
Thận (蜃) xuất hiện trong Thiên Quan Thư của Sử Ký, mang nghĩa là con ngao. Theo truyền thuyết, Thận có thể phun khí, tạo thành hình dạng lầu đài.
Yêu quái Thận là sinh vật do tác giả hư cấu.
Để lại một bình luận